banner 728x90

Văn hóa ẩm thực đặc trưng của người Chăm

10/12/2024 Lượt xem: 3914

Cộng đồng người Chăm ở tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận có 2 giáo phái chính là người Chăm theo đạo Bàlamôn và người Chăm theo đạo Hồi giáo Bàni. Ngoài ra có một bộ phận nhỏ theo đạo Hồi giáo Islam, bộ phận này được tách ra từ đạo Hồi Bàni, du nhập vào tỉnh Ninh Thuận từ những năm 60 của thế kỷ XX. Trong đời sống văn hóa nói chung, văn hóa ẩm thực nói riêng, đồng bào Chăm của 2 giáo phái trên có những đặc tính ẩm thực và phép tắc ứng xử mang đặc trưng riêng.

Các món ăn được đồng bào Chăm dâng cúng các vị thần trong ngày lễ

Đặc tính ẩm thực của người Chăm

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inrasara, tổ tiên người Chăm xưa cư trú dọc bờ biển duyên hải miền Trung – vùng đất nhiều nắng gió nên yếu tố địa lý và khí hậu đã ảnh hưởng không nhỏ đến đặc tính ẩm thực của người Chăm. Đơn cử như trong chế biến món ăn, người Chăm ít khi dùng mỡ động vật mà chủ yếu dùng dầu ăn thực vật để tăng hàm lượng chất béo. Những con vật dùng để hiến tế (dâng cúng thần thánh) đều là những con vật có rất ít mỡ trong cơ thể như gà, dê, trâu…

Cư trú ở vùng đất khí hậu khắc nghiệt nên trong chế biến món ăn, người Chăm không ưa các món chiên xào mà chủ yếu là nướng và luộc. Đặc biệt người Chăm rất chú trọng vào các món canh để cân bằng thân nhiệt khi thời tiết nắng nóng. Một bữa ăn thường ngày trong gia đình người Chăm ít khi thiếu món canh, có thể là canh rau rừng, canh rau môn… Đặc biệt là món canh rau tập tàng (nhiều thứ rau nấu chung) pha bột gạo là món ăn khoái khẩu của rất nhiều người, kể cả những gia đình khá giả.

Trong chế biến món ăn, người Chăm rất chú trọng các loại gia vị làm cho món ăn thêm đậm đà, hợp khẩu vị như ớt, hành, sả, mắm, muối… Ở Ninh Thuận có một làng Chăm ăn cay nổi tiếng, đó là làng Chăm Bàni Lương Tri (Palei Cang), xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn. Cách đây hơn 30 năm, hầu như nhà nào cũng có vườn trồng ớt và dự trữ ớt khô để làm gia vị chính trong chế biến các món ăn từ thủy sản nước ngọt như cá, lươn, ếch…

Bên cạnh sử dụng nhiều gia vị, trong các món ăn của người Chăm không thể thiếu món mưthin (mắm - món chấm đặc trưng). Mắm của người Chăm có nhiều loại như: Ia mưthin (nước mắm), Mưthin ngưic (mắm nêm), Mưthin jrum (mắm tôm), Mưthin drei (mắm cái), Mưthin tung ikan ya (mắm lòng cá ngừ), Mưthin ritaung (mắm cá lòng tong), Mưthin ka-ơk (mắm chưng)…

Mắm chưng của người Chăm

Người Chăm đang chế biến món cá ướp muối. Ảnh Kiều Maly

Những phép tắc trong ăn uống

Truyền thống xa xưa trong các gia đình người Chăm đều trải chiếu hoặc cà tăng theo chiều Đông-Tây để dọn ăn. Buổi sáng và buổi chiều thường dọn ăn ngoài sân, còn buổi trưa ăn trong hiên nhà. Thức ăn được dọn trên mâm và ngồi theo thứ bậc trong gia đình. Người phụ nữ (mẹ, chị) thường ngồi gần nồi niêu vừa ăn vừa bổ sung thức ăn cho mọi người. Bữa ăn bắt đầu khi người lớn tuổi cầm đũa. Trong lúc ăn không được nói chuyện hoặc cãi cọ, không để rơi vãi thức ăn.

Trong đình đám, tùy theo tính chất và đạo giáo Bàlamôn hay Bàni mà người Chăm có cách dọn ăn khác nhau. Nếu là đám tang ở cả hai đạo giáo dọn ăn theo chiều Bắc - Nam, còn nếu là các đám khác như đám cưới, hoặc lễ cúng thần thánh, họ dọn ăn theo chiều Đông - Tây. Người Chăm Bàlamôn bày thức ăn trên mâm cho hai hoặc bốn người. Còn người Chăm Bàni chỉ bày thức ăn trên mâm cho hai vị cao niên hoặc chức sắc ngồi trên cùng (gọi là mâm trên). Những mâm dưới sẽ bày thức ăn trực tiếp trên mặt chiếu.

Các vị chức sắc ở hai đạo giáo tham gia cúng kính trong nhà lễ (Kajang), khi ngồi vào mâm thụ lễ đều phải ngồi duỗi chéo chân và cắn hạt muối, thực hiện nghi thức xin phép bằng động tác và lời niệm thầm trong miệng. Đàn ông Chăm dùng cơm nơi đình đám hay ở nhà đều ngồi theo tư thế xếp bằng. Còn người đàn bà ngồi theo tư thế duỗi chéo chân như các vị chức sắc, đó là tư thế chuẩn mực bắt buộc. Trong bất kỳ tiệc đình đám nào, đàn ông cũng được mời ăn, uống trước rồi mới đến phụ nữ.

Những vị tu sĩ có những kiêng cữ gắt gao như không được ăn cá trê, thịt thú vật đã bị chết... Tu sĩ Bàlamôn không được ăn thịt bò, tu sĩ Bàni kiêng ăn thịt heo, thịt dông và nhiều kiêng kỵ khác.

Món rau và mắm chấm của người Chăm. (Ảnh Kiều Maly)

Có thể thấy, văn hóa ẩm thực và những phép tắc ứng xử trong ăn uống của người Chăm đã tạo nên một “phong cách ẩm thực Chăm” rất đặc trưng, góp phần làm nên một nền văn hóa ẩm thực phong phú, độc đáo của 54 dân tộc Việt Nam.

Nguồn: baodantoc.vn

 

 

Tags:

Bài viết khác

Nước chè – nét văn hóa bền bỉ trong đời sống người Việt

Nước chè (hay nước trà) từ lâu đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống tinh thần của người Việt. Qua nhiều thế hệ, chén chè hiện diện trong từng gia đình, từng làng quê, gắn bó với sinh hoạt thường ngày và những mối quan hệ cộng đồng. Sau bữa cơm chiều, bên ấm chè nóng, người ta ngồi lại trò chuyện, sẻ chia, để những câu chuyện đời thường được nối dài trong không khí thong thả, thân tình.

Phong tục dựng nhà và thủ tục vào nhà mới của người Nùng Vẻn

Phong tục dựng nhà và thủ tục vào nhà mới của người Nùng Vẻn là một trong những phong tục vô cùng khác biệt với các ngành Nùng khác mang bản sắc văn hóa đặc sắc được thực hành truyền đời trong cộng đồng dân tộc nơi đây.

Phong tục cưới hỏi ba miền Bắc – Trung – Nam: Những khác biệt thú vị trong văn hóa hôn nhân Việt

Do sự khác biệt về điều kiện địa lý, lịch sử và văn hóa, phong tục cưới hỏi của người Việt ở ba miền Bắc – Trung – Nam mang những nét riêng đặc trưng. Dù cùng hướng đến mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình, mỗi vùng miền lại có cách tổ chức nghi lễ cưới xin khác nhau, phản ánh rõ bản sắc văn hóa địa phương.

Bánh cọ – Hương vị núi rừng trong ẩm thực truyền thống

Giữa dòng chảy sôi động của ẩm thực hiện đại, bánh cọ vẫn giữ cho mình một vị trí riêng – lặng lẽ nhưng bền bỉ – như một thức quà mộc mạc mang đậm hơi thở núi rừng. Đây là món bánh truyền thống gắn bó lâu đời với đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao ở vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Chả Nhái làng Trào

Làng Phong Triều, xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên, Tp. Hà Nội xưa có tên nôm là làng Trào (được gọi chệch từ chữ Triều) nổi triếng trong vùng với món ăn “chả nhái”.

Nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày - Nùng Cao Bằng

Cao Bằng có bề dày lịch sử văn hóa truyền thống lâu đời, đa dạng và phong phú với nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nên một bức tranh văn hóa dân tộc đa sắc màu. Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng biệt.

Chiếc chiếu trong đời sống văn hóa tinh thần người Nam Bộ

Từ bao đời nay, chiếc chiếu đã trở thành vật dụng quen thuộc và gần gũi trong sinh hoạt của cư dân Nam Bộ. Trên vùng đất mới, nơi nhiều cộng đồng dân tộc cùng quần tụ, con người đã biết khai thác cây lác để dệt nên những tấm chiếu phục vụ đời sống hằng ngày. Theo thời gian, nghề dệt chiếu phát triển, cho ra đời nhiều sản phẩm phong phú, bền đẹp hơn, gắn bó sâu sắc với đời sống vật chất lẫn tinh thần của cư dân nơi đây.

Tây Bắc: Nơi hội tụ sắc màu văn hóa các dân tộc

Văn hóa Tây Bắc là sự giao thoa của thiên nhiên hùng vĩ với bản sắc độc đáo của nhiều cộng đồng dân tộc. Từ phong tục, lễ hội, âm nhạc đến ẩm thực, mỗi dân tộc nơi đây đều góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng và giàu bản sắc.
Top