banner 728x90

Nét đặc trưng trong dân ca dân tộc Mông

13/11/2024 Lượt xem: 3276

Đồng bào dân tộc Mông vốn có văn hóa rất đặc sắc. Trong đó, dân ca là một nét văn hóa đặc trưng không thể không nhắc tới. Những tiếng hát dân ca từ bao đời nay vẫn được cất lên mỗi dịp sum vầy hay chia xa, lúc vui hay lúc buồn, thay cho tiếng lòng vời vợi chất chứa bao nỗi niềm và cảm xúc của mỗi người.

Dân ca dân tộc Mông là chất liệu quý cho các sáng tác ca khúc hiện đại.

Dân ca dân tộc Mông rất muôn màu và đa sắc thái, mang đến cho người nghe những cảm nhận đặc biệt về thanh âm, luyến láy cùng nội dung phong phú. Mỗi lời hát cất lên gửi gắm trong đó bao xúc cảm, tâm tình, là tiếng lòng của người hát thể hiện qua câu chữ kết hợp với âm điệu. Dân ca Mông được chia thành 5 tiếng hát: tiếng hát tình yêu “gầu plềnh”, tiếng hát cưới xin “gầu xống”, tiếng hát làm dâu “gầu ua nhéng”, tiếng hát mồ côi “gầu tú giua”, tiếng hát cúng “gầu tùa”. Mỗi làn điệu được dùng cho những ngữ cảnh khác nhau với những cách thể hiện, diễn xướng và nội dung khác nhau. Trong số đó “gầu ua nhéng” có lẽ là làn điệu được biết đến nhiều hơn cả gắn với tác phẩm văn học dân gian “Tiếng hát làm dâu”, với những câu hát rất chân thật: “Em đang ở nhà em không biết/Nhà trai sang la liệt dù, ô/Dù, ô đã ngoắc cột nhà/ Thế là thành vợ, thế là làm dâu”.

Đồng bào dân tộc Mông thể hiện các làn điệu dân ca, dân vũ trong các dịp lễ hội.

Nội dung các lời hát dân ca luôn được lấy từ chính cuộc sống thường ngày, phản ánh chân thực về con người, công việc, về tình yêu, tình thân, về đời sống, những lời răn dạy con cháu... Câu từ dân ca dân tộc Mông đơn giản, chân chất như chính con người miền núi, nhưng rất gần gũi và sâu sắc về ý nghĩa. Trong đó phải kể đến thể loại “gầu plềnh”, làn điệu có nội dung thể hiện rất đa dạng. “Gầu plềnh” có nhiều dạng, vừa là những câu hát giao duyên nam nữ, vừa là những lời ca thể hiện tiếng lòng thương nhớ của đôi bên, hay đơn giản là những khúc hát trữ tình nói về tình yêu, hôn nhân vợ chồng. Những câu hát được lưu truyền bao đời nay với ca từ giản dị mà giàu hình ảnh, thấm đẫm cảm xúc như: “Em nắm tay anh nắm cho vững/ Anh cầm tay em cầm cho chặt/ Ta yêu nhau đằm thắm như khóm ngải xanh tươi”.

Còn tiếng hát cưới xin “gầu xống” và tiếng hát cúng “gầu tùa” lại là một phần quan trọng trong những nghi lễ truyền thống của đồng bào. Những câu hát là lời mở đầu cho câu chuyện trăm năm với những câu từ mộc mạc mà chân thành: “Ông (bà) mối tôi xin thưa/Con gái lớn biết vỡ đám ruộng hoang/Con trai lớn biết vỡ thửa ruộng rậm/Trai lớn biết dựng nhà/Mối mai tôi xin bày tỏ...”. Vẫn cách thể hiện ấy, câu hát còn là một phần không thể thiếu để thay lời thưa với gia tiên, thần linh trong những lễ cúng gia đình, cúng dòng họ, lễ cầu mùa cho làng bản. Câu hát cũng là lời tiễn biệt của người ở lại gửi đến người đã khuất núi. Những dạng dân ca này xuất hiện thường xuyên trong đời sống của đồng bào dân tộc Mông, cho đến nay vẫn được nhiều nơi gìn giữ. Dân ca Mông đặc biệt còn có tiếng hát mồ côi hay tiếng hát than thân “gầu tú giua” là một dạng dân ca mang đặc trưng riêng của dân tộc Mông. Xuất phát từ chính hiện thực cuộc sống, “gầu tú giua” là tiếng hát than thân của những người yếu thế mà chủ yếu là phụ nữ, những người bị hủ tục chèn ép và không được coi trọng trong xã hội cũ trước đây.

Theo Báo Sơn la

 

 

Tags:

Bài viết khác

Nước chè – nét văn hóa bền bỉ trong đời sống người Việt

Nước chè (hay nước trà) từ lâu đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống tinh thần của người Việt. Qua nhiều thế hệ, chén chè hiện diện trong từng gia đình, từng làng quê, gắn bó với sinh hoạt thường ngày và những mối quan hệ cộng đồng. Sau bữa cơm chiều, bên ấm chè nóng, người ta ngồi lại trò chuyện, sẻ chia, để những câu chuyện đời thường được nối dài trong không khí thong thả, thân tình.

Phong tục dựng nhà và thủ tục vào nhà mới của người Nùng Vẻn

Phong tục dựng nhà và thủ tục vào nhà mới của người Nùng Vẻn là một trong những phong tục vô cùng khác biệt với các ngành Nùng khác mang bản sắc văn hóa đặc sắc được thực hành truyền đời trong cộng đồng dân tộc nơi đây.

Phong tục cưới hỏi ba miền Bắc – Trung – Nam: Những khác biệt thú vị trong văn hóa hôn nhân Việt

Do sự khác biệt về điều kiện địa lý, lịch sử và văn hóa, phong tục cưới hỏi của người Việt ở ba miền Bắc – Trung – Nam mang những nét riêng đặc trưng. Dù cùng hướng đến mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình, mỗi vùng miền lại có cách tổ chức nghi lễ cưới xin khác nhau, phản ánh rõ bản sắc văn hóa địa phương.

Bánh cọ – Hương vị núi rừng trong ẩm thực truyền thống

Giữa dòng chảy sôi động của ẩm thực hiện đại, bánh cọ vẫn giữ cho mình một vị trí riêng – lặng lẽ nhưng bền bỉ – như một thức quà mộc mạc mang đậm hơi thở núi rừng. Đây là món bánh truyền thống gắn bó lâu đời với đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao ở vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Chả Nhái làng Trào

Làng Phong Triều, xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên, Tp. Hà Nội xưa có tên nôm là làng Trào (được gọi chệch từ chữ Triều) nổi triếng trong vùng với món ăn “chả nhái”.

Nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày - Nùng Cao Bằng

Cao Bằng có bề dày lịch sử văn hóa truyền thống lâu đời, đa dạng và phong phú với nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nên một bức tranh văn hóa dân tộc đa sắc màu. Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng biệt.

Chiếc chiếu trong đời sống văn hóa tinh thần người Nam Bộ

Từ bao đời nay, chiếc chiếu đã trở thành vật dụng quen thuộc và gần gũi trong sinh hoạt của cư dân Nam Bộ. Trên vùng đất mới, nơi nhiều cộng đồng dân tộc cùng quần tụ, con người đã biết khai thác cây lác để dệt nên những tấm chiếu phục vụ đời sống hằng ngày. Theo thời gian, nghề dệt chiếu phát triển, cho ra đời nhiều sản phẩm phong phú, bền đẹp hơn, gắn bó sâu sắc với đời sống vật chất lẫn tinh thần của cư dân nơi đây.

Tây Bắc: Nơi hội tụ sắc màu văn hóa các dân tộc

Văn hóa Tây Bắc là sự giao thoa của thiên nhiên hùng vĩ với bản sắc độc đáo của nhiều cộng đồng dân tộc. Từ phong tục, lễ hội, âm nhạc đến ẩm thực, mỗi dân tộc nơi đây đều góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng và giàu bản sắc.
Top