banner 728x90

Bài 9: Phú Mỹ xưa và nay

07/05/2024 Lượt xem: 3569

         Trước đây vùng đồi núi Tân Thành được bao phủ bởi những rừng cây rậm rạp. Cuối thế kỷ 19, chính nhà cầm quyền Pháp ở thuộc địa đã đánh giá rất cao giá trị của rừng ở địa bàn thị xã Phú Mỹ và đặt cho nó là Rừng cấm Số 01 (thuộc trạm Kiểm lâm cầu Thị Vải) gồm vùng cây lấy gỗ trên những địa phận các làng Long Nhung, Phước Hòa, Phú Thạnh, Mỹ Xuân của tổng An Phú Hạ. Những loại cây gỗ quý vốn rất nhiều ở Tân Thành như trắc, căm xe, làu táu, chò, dầu, gõ, trâm, săng trắng… hiện nay hầu như còn lại rất ít.

        Do địa hình vừa có núi, vừa có đồng bằng và rừng ngập mặn ven biển nên thổ nhưỡng ở đây khá đa dạng. Có thể chia đất đai Phú Mỹ thành 8 nhóm chính, trong đó đất xám chiếm tỷ lệ cao nhất: 28,3% tổng diện tích. Thổ nhưỡng Tân Thành thích hợp cho việc trồng các loại cây ăn trái lâu năm và cây công nghiệp. Lợi thế đó đang hướng Tân Thành tích cực đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, theo hướng tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm.

        Cơ cấu sử dụng đất hiện nay của thị xã Phú Mỹ được phân chia như sau: nông nghiệp chiếm 53,1% (17.977,4 ha); lâm nghiệp chiếm 16,6% (5.630,28 ha); đất chuyên dùng chiếm 15,6% (5.275,82 ha); đất ở chiếm 0,012% (424,2 ha); đất chưa sử dụng còn tương đối nhiều 13,2% (4.486,68 ha).

        Diện tích đất các khu công nghiệp là 3.236,5 ha, trong đó Khu công nghiệp Phú Mỹ 1 và Phú Mỹ 2 có diện tích 1.626,5 ha; Khu Công nghiệp Mỹ Xuân A1 và A2 có diện tích 950 ha; Khu Công nghiệp Cái Mép có diện tích 660 ha. Đó là chưa kể Khu Công nghiệp Phú Mỹ 3 phát triển sau này… Đây là 5 trong số 10 khu Công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

       Khí hậu thị xã Phú Mỹ nằm trong vùng khí hậu chung của Nam bộ và Bà Rịa-Vũng Tàu. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa mưa, do tác động của gió mùa Tây Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô, do tác động của gió mùa Đông Bắc, còn gọi là gió chướng, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 26-27oC. Bức xạ nhiệt độ cao, số ngày nắng trung bình trong năm là 261 ngày/năm. Lượng mưa trung bình khoảng 1.350mm/năm. Độ ẩm không khí trung bình đạt 85%. Khí hậu đó thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp, cây ăn trái và cây công nghiệp.

       Thị xã Phú Mỹ có nguồn khoáng sản khá dồi dào so với các huyện thành phố khác của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Các loại khoáng sản có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với sự phát triển công nghiệp địa phương và xuất khẩu như đá granit tại khu vực mỏ Bao Quan - Núi Dinh, đá xây dựng ở núi Thị Vải, đất sét cao lanh ở Mỹ Xuân, đất sét dùng làm gạch ngói ở Châu Pha… Đá granit thị xã Phú Mỹ rất trong, hạt mịn, màu ghi hoặc đen, rất có giá trị trong xây dựng. Từ cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp đã khai thác các mỏ đá ở đây. Tài liệu của người Pháp cho biết: núi Thị Vải, núi Ông Hựu và núi Ông Bộ cũng có độ cao bằng núi Cậu, núi Tóc Tiên, núi Ông Trịnh. Người ta thường khai thác đá ở những núi này. Bấy giờ núi Ông Trịnh, núi Dinh đã hình thành những công trường khai thác đá khá quy mô, đá ở đây được dùng để làm đường và xây dựng nhà cửa.

        Thị xã Phú Mỹ là vùng bán sơn địa ven rừng ngập mặn với hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt nên là vùng đất có nhiều loại đặc sản nổi tiếng xưa nay. Câu ca: Tôm cá Hội Bài, chuối xoài Long Phước, nói lên thế mạnh và nghề nghiệp sinh sống trước đây của người dân thị xã Phú Mỹ trước đây. Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của cuộc kháng chiến, trái cây của núi rừng là nguyên liệu làm ra bánh trái cây rất ngon và giàu hương vị để nuôi quân. Những năm gần đây, thị xã Phú Mỹ tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Cây công nghiệp, cây ăn trái là nông sản phẩm nổi tiếng và thế mạnh của thị xã Phú Mỹ hiện nay.

        Trong nhiều thế kỷ, thị xã Phú Mỹ nằm ở vị trí khu đệm, trên con đường mở đất mở nước về phương Nam của người Việt, tuy nhiên do đây là địa bàn mà một bên là rừng núi, một bên là rừng Sác ngập mặn, kênh ngòi chằng chịt, lại là địa bàn xung yếu, nơi có con đường độc đạo mà các đạo quân di chuyển liên tục trong suốt nhiều thế kỷ, vì vậy quá trình tụ cư, khai phá đất đai hình thành làng xóm ở thị xã Phú Mỹ muộn hơn so với nhiều nơi khác. Nhưng ưu thế của vị trí đó đã đưa đến cho vùng đất này những điều kiện bất ngờ trong quá trình phát triển.

(còn nữa…)

Đào Quốc Thịnh (biên soạn)

 

Tags:

Bài viết khác

Đình Điều Hòa (phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp) – Di tích hơn hai thế kỷ trong tiến trình hình thành cộng đồng Nam Bộ

Tọa lạc tại số 101 đường Trịnh Hoài Đức, phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp, đình Điều Hòa là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của vùng đất Mỹ Tho. Công trình phản ánh rõ nét tiến trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân Nam Bộ trong giai đoạn khai phá phương Nam.

Chùa Nhẫm Dương – Dấu ấn lịch sử, tâm linh và khảo cổ giữa miền núi đá vôi Kinh Môn

Chùa Nhẫm Dương, còn gọi là Thánh Quang Tự, nằm tại phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương cũ (nay thuộc phường Nhị Chiểu, thành phố Hải Phòng). Ngôi chùa tọa lạc dưới chân dãy núi Nhẫm Dương, thuộc hệ thống núi đá vôi Yên Tử kéo dài qua khu vực Đông Bắc Bộ – vùng đất được coi là địa linh nhân kiệt của đồng bằng sông Hồng.

Nghệ thuật khảm sành đặc sắc triều Nguyễn

Huế mang trong mình những nét cổ kính trầm mặc bởi những công trình còn mãi với thời gian, những điện đài lăng tẩm nằm bên dòng sông Hương thơ mộng với kiến trúc đa dạng mang đậm chất truyền thống. Và một nghề cổ cũng góp phần tạo nên vẻ đẹp đậm chất Huế chính là nghề khảm sành sứ.

Nhà cổ Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên – dấu ấn kiến trúc hơn một thế kỷ ở Tây Ninh

Tây Ninh hiện có 223 di tích lịch sử – văn hóa, trong đó có Di tích quốc gia đặc biệt Trung ương Cục miền Nam, 50 di tích cấp quốc gia cùng nhiều công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn Nam Bộ từ thế kỷ trước. Giữa hệ thống di sản ấy, nhà cổ của Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên (1854–1914) được xem là một kiến trúc tiêu biểu, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Tu viện Khánh An – “Góc Nhật Bản” thanh tịnh giữa lòng TP.Hồ Chí Minh

Tu viện Khánh An hay Chùa Khánh An (phường An Phú Đông, TP.Hồ Chí Minh) không chỉ là một điểm đến tâm linh quen thuộc của người dân thành phố mà còn là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt, ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng trong các giai đoạn đấu tranh của dân tộc. Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, nơi đây vừa mang chiều sâu lịch sử, vừa gây ấn tượng bởi kiến trúc độc đáo, được ví như “góc Nhật Bản” giữa lòng Sài Gòn.

Chùa Mật Đa – dấu ấn văn hóa, lịch sử giữa lòng Nam Ngạn, Thanh Hóa

Chùa Mật Đa, còn được gọi là chùa Nam Ngạn, tọa lạc tại phường Hàm Rồng, TP.Thanh Hóa. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa đặc biệt, ngôi chùa đã được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia từ năm 1989. Nằm lặng mình bên hữu ngạn sông Mã, cách cầu Hàm Rồng không xa, chùa hiện diện như một “rừng cây thơm” của đạo Phật – nơi hội tụ linh khí và tinh hoa đất trời xứ Thanh.

Chùa Mao Xá – Nốt lặng thanh tịnh giữa đồng quê xứ Thanh

Giữa cánh đồng lúa mênh mông ở thôn 5, xã Đông Minh (TP.Thanh Hóa), chùa Mao Xá (hay còn gọi là Thiệu Hưng Cổ Tự) hiện lên bình dị, thanh tịnh giữa không gian đồng quê yên ả. Đây không chỉ là điểm đến tâm linh quen thuộc của người dân xứ Thanh, mà còn là di tích mang giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc.

Chùa – nghè Cù Tu: Di tích gắn liền với Thái sư Trần Thủ Độ

Chùa Cù Tu, còn gọi là chùa Cảm Hóa Tự, tọa lạc tại xã Xuân Phúc, tỉnh Hưng Yên. Đây là nơi thờ Phật, đồng thời thờ Thái sư Thượng phụ Trần Thủ Độ và Pháp Vân – một trong bốn vị thần thuộc đạo Tứ Pháp.
Top