banner 728x90

Làng trống Bình An: Di sản lịch sử – văn hóa trường tồn của vùng sông nước

19/11/2025 Lượt xem: 2818

Làng nghề trống Bình An, thuộc xã Bình Lãng, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cũ, (nay là xã Tân Trụ, tỉnh Tây Ninh), là một trong những làng nghề thủ công lâu đời nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Theo các tài liệu địa phương, nghề trống tại đây hình thành từ cuối thế kỷ IX, gắn với tên tuổi ông Nguyễn Văn Ty – người được xem là ông tổ nghề. Từ việc học nghề trên những chuyến buôn dọc sông Vàm Cỏ, ông Ty đã tận dụng nguồn da trâu sẵn có ở quê nhà để tạo ra sản phẩm trống đầu tiên. Sự khéo léo và óc sáng tạo của ông nhanh chóng khiến trống Bình An vang danh khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Từ đời ông Ty đến nay, nghề đã được truyền nối qua năm thế hệ và vẫn giữ được sức sống bền bỉ.

Mỗi dịp cuối năm, làng trống Bình An trở nên nhộn nhịp với tiếng cưa, đục, thử âm vang vọng từ sáng đến khuya. Hiện nay, làng có hơn 20 cơ sở làm trống hoạt động thường xuyên, góp phần tạo nên một cộng đồng gắn bó với nghề. Không chỉ kế thừa kỹ thuật truyền thống, các nghệ nhân nơi đây đã nâng tầm tay nghề, tạo ra những sản phẩm tinh xảo đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Làng trống Bình An  làng trống "độc nhất của phía Nam". Ảnh: sưu tầm

Sản phẩm của làng trống Bình An đa dạng về mẫu mã và kích thước: từ trống trường, trống lễ hội, trống đình – chùa, trống múa lân – sư – rồng đến các loại trống phục vụ sân khấu truyền thống như chèo, tuồng, hát văn, hát xoan… Mỗi loại trống đều đòi hỏi kỹ thuật chế tác riêng, đặc biệt là ở khâu xử lý âm thanh.

Để hoàn thiện một chiếc trống đạt chuẩn, người thợ phải trải qua hơn 20 công đoạn với gần 200 thao tác thủ công. Ba khâu trọng yếu gồm làm da, khép thùng và bịt mặt trống. Nguyên liệu chính là gỗ sao, gỗ mít, gỗ sến hoặc gỗ dừa, được chọn lọc kỹ càng, xẻ, phơi và hun khói để chống mối mọt. Da trâu dùng làm mặt trống phải là da của trâu già trên 20 năm tuổi, nguyên tấm, được làm sạch rồi phơi bề lông dưới nắng để đảm bảo độ bền và độ vang.

Khâu bào da đòi hỏi sự tỉ mỉ. Ảnh: sưu tầm

Khâu bào da đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm. Tấm da được đặt lên thân gỗ cong, người thợ dùng dao bào bén ngót gọt từng lớp mỏng, vừa làm vừa kiểm tra bằng tay để tránh chỗ dày chỗ mỏng. Sau khi xử lý da, mặt trống được bịt bằng giàn trò – kỹ thuật truyền thống của làng. Dây da trâu được xỏ quanh mép da, kéo căng qua giàn cho đến khi mặt trống đạt độ căng và âm vang chuẩn.

Thùng trống – hay còn gọi là dăm – có hai loại: dăm liền và dăm ráp. Nghệ nhân Bình An từng sáng tạo bằng cách tận dụng thùng rượu Pháp, sau đó là thùng sơn Đời Tân. Khi nguồn thùng cũ không còn, họ nghiên cứu chế tác thùng mới, tạo nên kỹ thuật ráp thùng trống đặc trưng. Để uốn thanh gỗ, người thợ đốt lửa nhẹ, dùng sức nén tạo độ cong phù hợp. Một chiếc trống có thể cần đến 50 thanh gỗ, trong đó có độ hao hụt 10–15 thanh do nứt hoặc biến dạng.

Công đoạn khép thùng được thực hiện bằng cách nung lửa trong lòng trống cho gỗ mềm, sau đó lồng niềng sắt và đóng chặt bằng búa, đục. Người thợ tiếp tục gắn lò xo bằng dây kẽm để tạo âm thanh ngân dài, rồi sơn phủ, trang trí hoa văn truyền thống. Trống trường và trống chùa thường được sơn đỏ, còn trống lân thường có màu đen. Mặt trống được vẽ họa tiết âm dương biểu trưng cho sự hài hòa, cân bằng.

Tiếng trống gắn bó mật thiết với đời sống người Việt từ ngàn đời: tiếng trống trường giục giã mỗi giờ học, tiếng trống hội rộn ràng dịp xuân về, tiếng trống lân vang vọng trong đêm Trung thu hay tiếng trống đình – chùa trong những nghi thức tâm linh. Trong nghệ thuật truyền thống, trống giữ vai trò nhạc cụ trung tâm, góp phần định hình âm sắc của các loại hình như chèo, tuồng, hát xoan, hát văn…

Thân trống làm từ gỗ sao, bền chắc. Ảnh: sưu tầm

Sự hiện diện của nghề trống Bình An không chỉ làm phong phú đời sống văn hóa mà còn tạo nên bản sắc riêng cho cộng đồng cư dân địa phương. Nghề được truyền qua nhiều thế hệ bằng phương thức truyền khẩu, truyền nghề trực tiếp “cầm tay chỉ việc”. Qua đó, lớp trẻ không chỉ học được kỹ thuật mà còn tiếp nhận tinh thần kiên trì, tỉ mỉ và tình yêu dành cho di sản quê hương.

Nghề làm trống Bình An chứa đựng hệ thống tri thức dân gian phong phú: từ kinh nghiệm chọn gỗ, xử lý da, ghép thùng đến kỹ thuật tạo âm. Đây là di sản văn hóa phi vật thể có giá trị đặc biệt, thể hiện sự khéo léo, sáng tạo và bản lĩnh của cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sản phẩm trống của làng không chỉ đáp ứng nhu cầu văn hóa – tín ngưỡng mà còn góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kỹ thuật thủ công, làng nghề trống Bình An đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể theo Quyết định số 2202/QĐ-BVHTTDL ngày 27/6/2025.

Từ những âm thanh vang vọng của chiếc trống mộc mạc, làng nghề Bình An tiếp tục khẳng định vị thế là biểu tượng của nghệ thuật chế tác truyền thống và niềm tự hào của người dân miền sông nước.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

Tags:

Bài viết khác

Lễ hội chùa Ông (Đồng Nai): Giữ hồn di sản, kết nối cộng đồng Hoa – Việt

Ngày 26-2 (nhằm mùng 10 tháng Giêng), Lễ hội chùa Ông lần XI năm 2026 tại Biên Hòa bước vào cao điểm với nghi thức Nghinh thần rộn ràng trên sông và các tuyến phố trung tâm, thu hút hàng ngàn người dân, du khách tham gia. Diễn ra trong 5 ngày (từ 25-2 đến 1-3), lễ hội không chỉ tái hiện những nghi lễ truyền thống đặc sắc của cộng đồng Hoa – Việt mà còn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo điểm nhấn du lịch tâm linh đầu xuân của Đồng Nai.

Linh tượng ngựa trấn giữ chiều sâu tâm thức Việt

Trong dòng chảy thâm trầm của di sản Việt Nam, giữa những mái đình rêu phong, những cột chùa nâu trầm, có những linh tượng lặng lẽ nhưng uy nghi đứng bên những ban thờ - đó là Ông Ngựa.

Nét tinh túy trong ẩm thực Tết Việt

Tết Nguyên Đán truyền thống của người Việt là dịp lễ quan trọng nhất trong năm, được người Việt đón chào từ Tết Táo Quân (23 tháng chạp ÂL) và kéo dài đến ngày cúng Đất đai (Mồng 9 tháng Giêng). Giữa những ngày Tết có bao nhiêu lễ cúng khác, từ Tất niên (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch), lễ rước ông bà, cúng Giao thừa, đến lễ Khai hạ (mồng 7 tháng Giêng)…

Chùa Ông Bắc (Bắc Đế Miếu) – Di sản lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại Long Xuyên

Chùa Ông Bắc, tên gọi chính thức là Bắc Đế Miếu, là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của cộng đồng người Hoa tại phường Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ngôi miếu mang giá trị đặc biệt về lịch sử hình thành, kiến trúc truyền thống và đời sống tín ngưỡng, phản ánh rõ nét quá trình định cư, cộng cư và giao thoa văn hóa Hoa – Việt tại vùng đất Nam Bộ.

Đàn ching kram trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên

Đàn ching kram, còn gọi là chiêng tre, không chỉ là một nhạc cụ truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa, kết tinh đời sống tinh thần của người Ê Đê nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung. Với các nghệ nhân, ching kram không đơn thuần là phương tiện diễn tấu âm nhạc, mà là cách để kết nối với cội nguồn, với thiên nhiên và những giá trị văn hóa được truyền qua nhiều thế hệ.

Nước mắm – tinh hoa hồn biển trong văn hóa Việt

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, nguồn hải sản phong phú cùng khí hậu gió nắng đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa. Trong điều kiện tự nhiên ấy, từ rất sớm, cư dân ven biển đã sáng tạo nên nước mắm – loại gia vị mặn mà, đậm đà, kết tinh tinh hoa của biển cả và trí tuệ dân gian Việt Nam.

Văn hóa Đông Sơn – Nền tảng rực rỡ của văn minh Việt cổ

Văn hóa Đông Sơn là một trong những đỉnh cao tiêu biểu của văn minh Việt cổ, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa bản địa của cư dân người Việt trong thời kỳ tiền – sơ sử. Trên nền tảng văn hóa này, các nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc như Văn Lang thời các Vua Hùng và Âu Lạc dưới triều An Dương Vương đã được hình thành, mở đầu cho tiến trình dựng nước lâu dài của dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật múa Khmer – Di sản văn hóa Tây Ninh

Tây Ninh là vùng đất hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa, nơi các giá trị truyền thống của cộng đồng các dân tộc vẫn được gìn giữ và phát huy trong đời sống đương đại. Trong bức tranh văn hóa đa sắc ấy, nghệ thuật múa truyền thống của đồng bào Khmer, tiêu biểu là múa chằn và múa Apsara, giữ vai trò quan trọng, góp phần làm nên bản sắc riêng của địa phương.
Top