banner 728x90

Tín ngưỡng thờ hổ trong văn hóa Việt

08/05/2024 Lượt xem: 3174

Trong số 12 con giáp, hổ là linh vật đặc biệt khi được nhiều nền văn hóa các nước và Việt Nam tôn sùng. Hình tượng loài hổ đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh, sự thanh thế, oai linh, vẻ đẹp rực rỡ nhưng cũng đầy bí hiểm với sức mạnh siêu phàm nơi rừng sâu núi thẳm. Trong nghệ thuật tạo hình, “Ông Ba Mươi” là tên gọi đầy uy linh, quyền kính, là biểu tượng của võ tướng với uy thế dũng mãnh được thờ cúng quyền kính trong những không gian thờ đình, chùa, miếu mạo. Thậm chí, trong những bức tranh dân gian của các dòng tranh Hàng Trống, Kim Hoàng, Hổ là biểu tượng cho sức mạnh tâm linh thể hiện ra vũ trụ quan của người Việt.

Bạch hổ

Hình tượng ông Hổ hay Chúa Sơn Lâm được tôn vinh và thờ phụng trong nhiều nền văn hóa của các nước ở khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam. Trong tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc, hình tượng loài hổ đã gắn liền với quan niệm thần giám hộ của quốc gia. Nhiều nước châu Á quan niệm hổ tượng trưng cho sự uy mãnh, sức mạnh và tục lệ thờ hổ cũng bắt nguồn từ đó. Trong quan niệm của dân gian Việt Nam, hổ hay còn gọi là “Ông Ba Mươi” là tên gọi đầy uy linh, quyền kính dành cho Ông Hổ trong những không gian tâm linh như đình, chùa, miếu mạo.

Trong dân gian Việt Nam thì hổ được gọi với nhiều tên vì người ta kiêng húy, kỵ hóa. Một số người không dám gọi thẳng tên, mà gọi chệch đi để kỵ húy, cũng như tỏ ý tôn trọng hay thành kính. Nhiều địa phương lập miếu thờ cọp, gọi cọp là Sơn Thần, Sơn Quân Chúa Sơn Lâm và bao giờ cũng thêm chữ “Ông”, “Ngài” đứng trước để bày tỏ sự tôn kính với vị thần Chúa Sơn Lâm này.

Tranh hổ

Đối với người Việt, hình tượng loài hổ đã xuất hiện trong tín ngưỡng và tôn giáo từ rất lâu đời. Hổ đã xuất hiện trên mặt trống đồng đến các miếu đền thờ thần Hổ cho thấy sự gắn bó từ ngàn đời nay của loài vật này với người dân Việt Nam. Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, hổ được gắn với tục lệ thờ Mẫu. Thần hổ uy linh và đầy huyền bí đã đi vào đời sống tâm linh của người Việt, trở thành một nhân vật được thờ cúng ở rất nhiều điện, đền, phủ. Các đình chùa, miếu thường chạm khắc hình tượng hổ để thể hiện sự thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Hổ là linh vật trấn giữ đền miếu, tam quan, đứng uy mạnh bên các trục thần đạo trong lăng mộ. Nhiều đền, miếu ở Việt Nam còn có ban riêng thờ ông Hổ. Ở miền Nam còn lập đền thờ ông Hổ với ý nghĩa giống như đền thờ Cá Ông. Hình tượng hổ được tạc chầu trong các ban thờ Mẫu với năm màu sắc tượng trưng cho ngũ hành, được gọi là Quan Ngũ Dinh (Quan Lớn Tuần Dinh), được coi là thần hộ pháp bảo vệ cho bản đền và là bộ hạ của Thần, Thánh, Mẫu và trấn giữ các phương.

Người ta quan niệm rằng thần Hổ trấn giữ bốn phương, bốn cõi và có uy quyền mạnh mẽ trong tay, vạn vật có sinh tồn được hay không là phải do ngài phán quyết. Việc thờ thần hổ còn ngụ ý mong cho gia đình sung túc, khỏe mạnh, tai qua nạn khỏi, vật nuôi trong nhà được hưng thịnh. Như vậy có thể thấy, hổ có vị trí, vai trò rất đặc biệt và quan trọng trong tín ngưỡng của văn hóa Việt. Vì thế, trong môi trường sống bất trắc, con người phải đối mặt với nhiều loài động vật hung hãn, đe dọa đến tính mạng và sự sinh tồn. Tâm lý sợ hãi những động vật uy quyền đã tác động trực tiếp đến việc tôn sùng, do đó việc thờ phụng thần hổ chính là một cách để giải tỏa tâm lý.

Tượng hổ trong điện thờ miền Bắc được sắp xếp theo trật tự không gian từ cao xuống thấp. Trong đó, phần trung điện thờ các chư vị thiên thần, nhân thần. Hạ điện thờ ngũ hổ. Thanh xà, bạch xà cuốn trên xà ngang thuộc tầng cao nhất của điện. Thần hổ được giữ vị trí nhất định trong điện thờ Mẫu, thể hiện sự cân bằng giữa hai miền thiên phủ, địa phủ, góp phần trấn an cho cửa điện.

Tranh ngũ hổ

Cùng với tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam, hình tượng hổ xuất hiện với nhiều biến thể đa dạng, phong phú trên các loại hình, chất liệu khác nhau từ tượng thờ, vật liệu trang trí, tranh thờ dân gian mang nhiều ý nghĩa, gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Thần Hổ còn được dân gian gọi với nhiều danh xưng khác nhau như: ông, ngài, cậu chúa…

Xuất phát từ tục thờ hổ, thần thánh hóa loài vật này, các nghệ nhân dân gian cũng xây dựng biểu tượng hổ qua nhiều chất liệu như: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy... Hổ xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm mỹ thuật Việt Nam. Ở nước ta tác phẩm hội họa dân gian tiêu biểu nhất vẽ về hổ mang tính cộng đồng thuộc về dòng tranh dân gian Hàng Trống. Tranh Hàng Trống khắc họa hình tượng Ngũ hổ được kết hợp độc đáo trong bản điện thời tín ngưỡng Tam, tứ phủ với đủ phong cách thể hiện.

Tranh dân gian Hàng Trống đã từng là món ăn tinh thần một thời của người Hà Nội, là đỉnh cao của nghệ thuật tranh dân gian lưu giữ những hồn cốt còn sót lại của dân tộc. Tranh Hàng Trống được người Hà Nội xưa ưa chuộng, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán hàng năm.

Hổ hiện diện từ những nỗi lo của cuộc sống thường nhật rồi đi vào tôn giáo tín ngưỡng với những hình thức biểu tượng đa dạng phong phú. Đây chính là cách con người nghĩ ra để khuất phục uy quyền, chi phối sự hung dữ, đồng thời cũng là để tiến một bước tiếp theo là mượn uy linh của loài vật này mà trừ tà, trấn trạch cầu phúc cho đời sống nhân sinh.

Ban Nghiên cứu văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top