banner 728x90

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam

02/06/2024 Lượt xem: 4078

Là một hình thức tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt Nam, bất kể họ ở đồng bằng hay miền núi, nông thôn hay thành thị. Có nhiều cách gọi khác nhau về tín ngưỡng này, như thờ cúng tổ tiên, Đạo tổ Tiên, Đạo ông bà, thậm chí gần đây có người coi thờ tổ như một thứ tôn giáo bản địa, tôn giáo dân tộc.

Một mặt, với tư cách là một tín ngưỡng bản địa, thờ cúng tổ tiên cởi mở tiếp thu các ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng khác, nhất là đạo Khổng. Mặt khác, nó có thể thâm nhập vào nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác, kể cả các tôn giáo lớn ngoại lai như Phật giáo, Kitô giáo…

Vượt lên trên cả khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo, thờ cúng tổ tiên thấm đượm đạo lý uống nước nhớ nguồn, một thứ ứng xử cộng đồng gia tộc, dòng họ và mở rộng cựa đại tới cộng đồng dân tộc, quốc gia, nó trở thành một chuẩn mực khuôn mẫu về ứng xử của con người Việt Nam. Bởi vậy, thờ cúng tổ tiên vừa tiếp nhận nguồn cội xa xưa của tín ngưỡng nguyên thủy (Tô tem giáo), vừa có sức sống trường tồn vừa có sức vươn tới tiếp cận với đời sống hiện đại.

Trong các tộc người thiểu số của nước ta, không phải tộc người nào cũng tồn tại hình thức thờ cúng tổ tiên. Có lẽ rõ rệt hơn cả là tục thờ Đẳm (Phi Đẳm) của người Thái, thờ tổ tiên ở các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Hoa, Dao, Hmông… về cơ bản, các hình thức thờ tổ tiên ở các tộc người là giống nhau, tuy nhiên ở mỗi tộc người lại có sắc thái riêng. Ví dụ, thờ tổ tiên của người Dao có khi đồng nhất với thủy tổ dân tộc là Bàn Hồ, thờ tổ tiên của người người Mường cùng chung với thờ Vua Ba Vì (tức thần núi Ba Vì – Sơn Tinh)… Hay điển hình hơn cả là tục thờ Vua Hùng của người Việt, mà thực chất đó là sự phóng đại từ tục thờ tổ tiên của gia tộc, dòng họ trở thành thờ Quốc tổ của dân tộc.

Một hình thức xa xưa về quan niệm huyết thống và là tín ngưỡng vật tổ hiện còn tàn dư ở một số tộc người, nhất là các tộc nói ngôn ngữ Môn Khơme, Khơmú, Mảng, Xinhmun…Các nhóm cùng huyết thống chọn một con vật, cây cỏ, đồ vật nào đó là biểu tượng vật tổ của mình, như hổ, gấu, chó, chồn, cây dương xỉ, rọ lợn, đũa cả… Cùng với quan niệm vật tổ, còn có các huyền thoại về vật tổ, những kiêng kỵ liên quan đến vật tổ (không ăn thịt vật tổ), một số nghi lễ mà hình ảnh vật tổ được tái hiện.

Tuy tín ngưỡng vật tổ và tổ tiên đều dựa trên nguyên lý huyết thống, nhưng sự thể hiện có nhiều khác biệt, trong đó có việc lựa chọn vật biểu trưng cho quan hệ huyết thống. nếu với tục thờ cúng vật tổ thời thị tộc, vật biểu trưng là một vật (cây, con…) ở ngoài thị tộc thì với tục thờ cúng tổ tiên chính người khởi thủy ở bên trong dòng tộc là biểu trưng cho tổ tiên.

Ban Tôn giáo phía Nam

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top