banner 728x90

Hoa Trượng Hội, nét đẹp trong lễ hội Phủ Dầy

29/05/2024 Lượt xem: 2548

Hoa Trượng Hội hay còn gọi là Hội Kéo chữ là nét đẹp văn hóa không thể thiếu trong lễ hội Phủ Dầy.

Trong cuốn “Dấu ấn lịch sử hơn 530 năm của họ Nguyễn Cựu Hào tại tỉnh Nam Định” của ​Tác giả Bùi Văn Tam sinh ra tại Vụ Bản Nam Định có viết:

   “Chuyện rơi chén ngọc dấu son giáng

     Sắp bày hoa trượng , chữ vàng tươi”

Trong bia “Khải định lục niên Xuân” cụ Nghè Tính là người đầu tiên đưa Hội hoa trượng khắc vào bia đá , khẳng định Hội hoa trượng có tính lịch sử và ý nghĩa tư tưởng rất tốt đẹp. Với đoạn văn 53 chữ cụ Nghè Tính đã khái quát lịch sử của Hội Hoa Trượng , một nét đẹp văn hoă của lễ hội Phủ Dầy.

Cụ Nghè Tính cho biết Hội Hoa Trượng có từ đời Trịnh Thái Phi: Trần Thị Ngọc Đài. Vốn là năm 1630-1632 nước ta bị lũ lụt lớn, đê vỡ nhiều đoạn, vùng đồng bằng Bắc Bộ bị ngập lụt, dân tình đói khổ. Đê Hà Thành bảo vệ kinh thành Thăng Long cũng bị phá vỡ nhiều đoạn, chúa Trịnh Tráng phải triệu phu các trấn về đắp đê, trong đó có dân phu Vụ Bản , quê hương của vợ chúa tức bà Vương Phi Trần Thị Ngọc Đài. Dân phu đến kêu cầu với Vương Phi Ngọc Đài , Vương Phi bày kế lên tâu xin với chúa Trịnh Tráng, nên dân phu Vụ Bản được chúa cho về để lo việc chống lụt ở nhà.

Theo lời dặn của Vương Phi, khi dân phu về đến nhà nên tập chung tại Phủ Dầy (An Thái từ) vì có sự giúp đỡ của Mẫu Liễu Hạnh, bà Ngọc Đài mới có địa vị Vương Phi để cầu xin chúa Trịnh. Dân phu kéo về đền An Thái từ, vác mai, cuốc sắp thành chữ “Thánh cung vạn tuế“ để lễ tạ Thánh Mẫu. Sau này cứ đến ngày kỵ của Mẫu lại diễn lại việc xếp chữ bằng mai , cuốc này. Năm Dương Hoà 1642, Phủ Dầy An Thái được nhà nước cho xây dựng và lợp ngói, Vương Phi Ngọc Đài về dự lễ khánh thành, đổi hội mai, cuốc thành gậy hoa để sắp chữ, từ đó Hội Hoa Trượng được hình thành, nguyên lệ cho đến ngày nay.

Làng Vân Cát mới mở rộng ra cánh cát phía Tây Bắc xã An Thái, từ đầu thế kỉ thứ XVII năm Cảnh Trị cuối thế kỉ XVIII mới lập miếu thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh (theo bia của cụ Cao Xuân Dục để ở phủ Vân Cát) nhưng rất đơn giản.

Đến đời Cảnh Thịnh thời Tây Sơn (1793-1801). Hội Nguyên Trần Gia Du mới xây được Phủ Vân Cát, cung đệ nhất ba gian. Có lẽ từ đây Vân Cát mới có Hội Hoa Trượng , nhưng đến đầu đời Tự Đức vì dân ít, của ít nên không làm được, phải giao lại theo nguyên lệ cho phủ An Thái tức Phủ Dầy Tiên Hương ngày nay.

Bia ghi rõ sự việc này và nói rõ sau hơn 60 năm , đến năm Khải Định thứ sáu (1921) Vân Cát mới xin mở lại Hội Hoa Trượng.

Như vậy, cụ Nghè Tính là người đầu tiên ghi bia về lịch sử phát triển Hội Hoa Trượng với nguyên lệ xuất phát từ An Thái từ , nay là Phủ Dày Tiên Hương , nói lên công đức của Thái Phi Trần Thị Ngọc Đài.

Trong bài “ Luận Thánh Mẫu” ông Nghè Tính cũng từng viết : “ Cường quyền hạ thủ phi vi quý

Bần nhược tu tri quảng dĩ nhân “

Bùi Văn Tam

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top