banner 728x90

Các tư tưởng và học thuyết của Nho giáo

09/06/2024 Lượt xem: 2610

Các tư tưởng và học thuyết của Nho giáo đã trở thành vũ khí lý luận cho các vương triều phong kiến Việt Nam tổ chức quản lý quốc gia trong giai đoạn độc lập tự chủ. Bởi thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi tín ngưỡng thờ tổ tiên không chỉ được lễ thức hóa mà còn được các vương triều thừa nhận, thể chế hóa bằng pháp luật. Chẳng hạn, Quốc triều hình luật của nhà Lê đã đưa ra những quy định rất chặt chẽ về luật hương hỏa (điều 399 và 400): Ruộng hương hỏa, dù con cháu nghèo khó, cũng không được đem bán trái pháp luật, có người tố cáo phải ghép vào tội bất hiếu. Nếu người trong họ mua ruộng đất ấy thì mất số tiền mua. Người ngoài mà mua thì phải cho chuộc, người mua không được cố giữ. Đây là nguồn tài sản được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác dành cho việc thờ cúng tổ tiên, không được xâm phạm. Hơn thế các vương triều còn có chế độ khen thưởng bổng lộc cho những bậc “ hiếu tử” – những người mà lúc “cha mẹ sống lấy lễ mà thờ, cha mẹ chết lấy lễ mà táng”.

Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt đã hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở quan niệm tâm tình cũng như một nền tảng kinh tế – xã hội – tư tưởng khá bền vững. Có thể nói, những yếu tố tâm linh có tính bản địa và mộc mạc đã được thể chế hóa, hợp pháp hóa nhờ hệ tư tưởng Nho giáo và ủng hộ của các vương triều. Chính vì vậy, tín ngưỡng này đã được bảo tồn qua suốt tiến trình lịch sử nhiều biến động.

Bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một phong tục, một tín ngưỡng hay một tôn giáo? Vấn đề này được các nhà nghiên cứu quan niệm khác nhau: người thì coi là một mỹ tục, người lại khẳng định đó đích thực là một tôn giáo bản địa…

Nội hàm của khái niệm “tổ tiên “và “thờ cúng tổ tiên” cần được xác định cụ thể. Có tác giả cho rằng “tổ tiên” bao gồm từ tổ nhà, tổ họ, cho đến tổ làng, tổ nghề, tổ nước – tức là những người có công đầu tiên hoặc trực tiếp tới việc sinh thành, mở làng, mở nghề, dựng nước. Với quan niệm này, khái niệm được mở rộng rất nhiều và không được phân biệt rõ ràng. Trong thực tế, rất nhiều bậc tổ làng (tiền hiền khai ấp, hậu hiền khai cơ) được tôn sùng là Thành hoàng cai quản không gian thiêng liêng của làng. Trong số các thần Thành hoàng cũng có một số nghề. Theo chúng tôi, khái niệm “tổ tiên “được giới hạn trong trục huyết thống, bằng quan hệ thân tộc: tổ nhà, tổ họ. Rộng hơn, với xu hướng mở và quan niệm tâm linh của người Việt, vị thần tổ của nước – vua Hùng – cũng được soi dưới góc độ thân tộc, dù là mối liên hệ xa hơn và mang tính huyền thoại.

Ở đây, cũng cần phân biệt khái niệm “tổ tiên” trong tín ngưỡng ở nước ta khác với “tổ tiên – Tô tem giáo” thường phổ biến ở nhiều tộc người. Tín ngưỡng thờ “tổ tiên – Tô tem giáo” ra đời rất sớm. Các thị tộc mẫu hệ thường tôn sùng một biểu tượng Tô tem như tổ tiên của mình, đó có thể là biểu tượng thực vật, động vật (phần lớn là một loài vật nào đó) hoặc nửa người, nửa vật. Một vài tộc người ở Tây Nguyên vốn có tục “cà răng” như dấu ấn về sự mong muốn có hình dáng gần gũi với đặc trưng của tổ tiên (loài vật nhai lại). Truyền thuyết “cha Rồng – mẹ Chim” (Lạc Long Quân – Âu Cơ) của người Việt đã phản ánh loại tín ngưỡng Tô tem này của người Việt cổ. Cũng không phải không có lý do khi “cha Rồng – mẹ Chim” phải chuyển hóa thành Hùng Vương – một ông vua cụ thể – để làm cơ sở cho nội hàm khái niệm “tổ nước”.

Ban Nghiên cứu Tôn giáo

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top