banner 728x90

Trống, chiêng trong đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc

30/10/2024 Lượt xem: 3954

Trống, chiêng là bộ nhạc cụ có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống thường ngày và văn hóa tín ngưỡng truyền đời của đa phần đồng bào các dân tộc ở Sơn La. Nhạc cụ này gắn liền với mọi nghi lễ truyền thống, được coi là linh hồn trong văn hóa tinh thần.

Hầu hết đồng bào các dân tộc của Sơn La đều sử dụng trống hoặc cả trống và chiêng trong các nghi lễ truyền thống. Tùy theo từng nghi lễ mà tiếng trống, chiêng mang những ý nghĩa khác nhau. Với đồng bào Thái, trống và chiêng không thể thiếu trong các cuộc vui, lễ hội của bản làng. Hình ảnh bộ trống, chiêng được đặt tại sân nhà văn hóa với hai người chủ trì đánh trống, chiêng, động tác nhịp nhàng đã trở nên quen thuộc trong mỗi dịp lễ hội, tề tựu đông đủ bà con lối xóm chung vui trong dịp đặc biệt. Tiếng trống, chiêng làm nền cho điệu xòe đêm hội, gắn kết mọi người không phân biệt gái trai, già trẻ hay dân tộc.

Bộ nhạc cụ trống và chiêng của đồng bào dân tộc Thái

Với đồng bào Thái, trống và chiêng được sử dụng để tạo âm thanh, giữ nhịp điệu cho điệu múa xòe ngày hội hoặc cũng được dùng trong tang ma. Tùy theo nghi lễ sử dụng mà nhịp điệu trống, chiêng có sự khác nhau, chỉ cần nghe nhịp trống là biết có chuyện vui hay buồn. Kỹ thuật chế tác trống, đúc chiêng rất khó, đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo của đôi bàn tay, biết tính toán về kích thước và có khả năng thẩm âm tốt. Riêng với trống, tùy theo mục đích sử dụng trong gia đình, dòng họ hay làng bản cần kích thước lớn nhỏ khác nhau, căng bằng da bò là chủ yếu. Để có một chiếc trống âm thanh chuẩn, vang vọng núi rừng thì đường kính mặt trống phải đạt kích thước khoảng 6 nắm tay, tương đương từ 50-60 cm, chiều cao của trống bằng 10-12 nắm tay, tương đương 0,8-1 mét.

Còn với đồng bào dân tộc Dao, tiếng trống, tiếng chiêng gắn liền với những nghi lễ vòng đời từ lúc một người sinh ra, lớn lên, công nhận trưởng thành cho đến khi khuất núi. Trống của dân tộc Dao có chung một thiết kế và kích thước giống nhau, mặt trống có đường kính khoảng 40cm, cao 30-35cm, tang trống bằng nhiều miếng gỗ ghép lại với nhau, mặt trống phải căng bằng da trâu đã qua xử lý. Tiếng trống nghe giòn, vang và độ vọng không xa. Còn chiêng thường nhỏ, không có núm, đường kính chỉ khoảng 20cm, tiếng chiêng nghe trong trẻo, dễ bắt nhịp và hòa cùng vào tiếng trống.

Bộ nhạc cụ trống và chiêng của đồng bào dân tộc Thái

Còn với dân tộc La Ha, Khơ Mú, Mường... trống và chiêng cũng là nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào, xuất hiện trong ngày hội vui và các nghi lễ mang đậm phong tục tập quán truyền đời. Đặc biệt là những ngày hội lớn, tiếng trống “tùng, tùng…” vang vọng theo nhịp dẫn dắt bước chân người bước vào vòng xòe. Người người nắm tay hòa mình vào vòng xòe, nghe nhịp trống để bước chân một cách tự nhiên để cả vòng xòe cứ thế nới rộng và nhịp nhàng, uyển chuyển theo tiếng trống chiêng 2/4, 4/4 đều tăm tắp, nối dài không dứt suốt những đêm hội.

Đồng bào các dân tộc ở Sơn La có nhiều loại nhạc cụ, mỗi nhạc cụ mang những ý nghĩa riêng, giúp truyền tải những tâm tư, tình cảm, khát vọng và lời muốn nói từ trong tâm khảm. Nhưng trống và chiêng vẫn luôn là bộ nhạc cụ giữ hồn cho âm nhạc dân gian, giữ nhịp cho những điệu dân vũ truyền thống và chứa đựng trong đó cả câu chuyện về văn hóa ngàn đời của đồng bào trong kỹ thuật chế tác, quy tắc sử dụng và cách gìn giữ đầy trách nhiệm của các thế hệ nối tiếp nhau, để tiếng trống, tiếng chiêng vang vọng mãi trong văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc Sơn La.

Theo Báo Sơn La

 

 

 

Tags:

Bài viết khác

Hoa ban – biểu tượng văn hóa của núi rừng Tây Bắc

Đến Tây Bắc vào những ngày mùa xuân, người ta dễ dàng cảm nhận một hương sắc rất riêng của núi rừng. Đó là hương của đất trời, của những triền đồi và của mùa hoa ban nở trắng mỗi độ tháng Ba về.

Tục Mừng tuổi ngày Tết

Tục mừng tuổi đã là một phần không thể tách rời của văn hóa người Việt trong suốt lịch sử. Nó gắn liền với những ước vọng tốt đẹp trong ngày đầu xuân năm mới, truyền tải những lời chúc may mắn, sức khỏe và thành công cho mọi người

Mâm ngũ quả trong văn hóa 3 miền Bắc – Trung - Nam

Bên cạnh các món ăn truyền thống, mâm ngũ quả là một phần không thể thiếu trong ngày tết cổ truyền của người Việt Nam. Trước là thờ cúng tổ tiên, sau là ước mong năm mới được an khang, thịnh vượng hơn năm trước. Theo thời gian, dù có nhiều thay đổi về văn hoá nhưng tập tục này vẫn lưu truyền trong gia đình Việt bởi ý nghĩa nhân văn của nó.

Các loại bánh truyền thống trong mâm cỗ Tết Việt

Bánh là một trong những món ăn không thể thiếu của ngày Tết cổ truyền ở Việt Nam. Tùy theo từng vùng miền sẽ có loại bánh biểu tượng riêng và mang những ý nghĩa vô cùng đặc biệt.

Phong tục Tết Việt Nam

Lễ tết là một bộ phận đời sống văn hóa tinh thần quan trọng của văn hóa truyền thống Việt Nam. Lễ Tết thường tập trung vào thời điểm đầu năm, phù hợp với thời tiết và thời vụ vì thế nó ăn sâu vào ý thức dân tộc. Tuy các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghi thức Lễ Tết Việt Nam đều xuất xứ từ Trung Hoa, nhưng thực chất thì phong cách, tâm hồn và truyền thống đều thể hiện rõ bản sắc Việt Nam.

Giá trị của chén nước chấm trong văn hóa ẩm thực Việt

Trong ký ức của nhiều người Việt, mâm cơm gia đình luôn hiện lên với một hình ảnh rất quen thuộc: mâm tròn, những đĩa thức ăn bày biện gọn gàng và ở chính giữa là một bát nước chấm nhỏ. Chỉ một chi tiết giản dị ấy thôi nhưng lại chứa đựng cả một lớp văn hóa sâu dày của đời sống người Việt.

Bánh tét - Hương vị ngày Tết cổ Truyền

Bánh Tét có nguồn gốc từ sự giao thoa văn hóa giữa Việt và Chăm-pa, mang ý nghĩa về tình thân và sự đoàn kết gia đình. Nó biểu trưng cho sự bảo vệ, yêu thương trong các mối quan hệ.

Tết trên “mái nhà trôi”: Sắc xuân và mạch ngầm tín ngưỡng ở Chợ nổi Cái Răng

Những ngày cuối năm, khi sương sớm còn giăng mỏng trên mặt sông, chợ nổi Cái Răng (TP. Cần Thơ) đã rộn ràng tiếng máy ghe, tiếng gọi nhau í ới của người mua kẻ bán. Cả khúc sông như khoác lên mình tấm áo mới rực rỡ sắc hoa, sắc trái cây, báo hiệu mùa Tết đang cận kề.
Top