banner 728x90

Tản văn: Ngõ chợ xưa và nay

14/04/2025 Lượt xem: 2852

Nói về địa danh thì đấy là con đường nhỏ gần với chợ. Tuy nhiên, khi nghĩ về nơi ấy, ai cũng có chút buồn đầy xa vắng. Cho tới tận hôm nay, không gian mua bán ở chợ đã trở lên sầm uất gấp bội so với trước, nhưng ngõ chợ vẫn vậy, bình thản như một người đã trải qua thời gian.

Xưa, chợ là nơi hội tụ tất cả những gì về vật chất và tinh thần của mọi người. Không phải ngẫu nhiên đất Kinh Kỳ - Thăng Long xưa được gọi là kẻ chợ. Nơi đó, con người có thể hoàn toàn mưu sinh tự do nhất cho mình, nếu không muốn nói là rất thuận lợi vì “phi thương bất phú”. Còn người quê thầm ước được sống nơi kẻ chợ, Giàu thôn quê không bằng ngồi lê “Kẻ Chợ”. Do vậy, từ các thương gia năm châu bốn biển cho tới tao nhân mặc khách, văn nghệ sĩ đều muốn tá túc gần chợ. Chính vì sức hút đó mà dù xung quanh chợ rất chật chội, họ sẵn sàng chấp nhận không gian sống hạn chế của mình từ giao thông, nhà ở, vị trí... Vì xưa đất đai đâu có thiếu thốn như ngày nay.

Ngõ chợ là không gian tiệm cận với chợ. Nó hội tụ đầy đủ những yếu tố trạng thái mà con người đều cần có: sáng sớm ồn ào, nửa trưa dịu nguội, buổi chiều bùng lên để tối về thanh bình. Về góc độ nhu cầu sinh hoạt thường ngày, người ngõ chợ có thể thủng thẳng bước ra để mua sắm bất cứ thứ gì mình thích với tâm thế của người bản địa vì quen thuộc. Về thông tin, dù xưa không có đài báo, internet thì chỉ cần rảo bước ra đầu chợ có thể nắm biết toàn bộ thông tin một vùng rộng lớn. Với văn nhân, họ sẽ lang thang dạo bước để ngắm nghía, lắng nghe mọi giai tầng xã hội ở chợ để làm vốn sống cho mình. Vì thế, không phải ngẫu nhiên các nhà thơ văn xưa trú ngụ ở ngõ chợ rất nhiều. Có những ngõ chợ nổi tiếng ở Hà Nội như: ngõ chợ Khâm Thiên, ngõ chợ Mơ, ngõ chợ Hôm...

Ở Vũng Tàu, có chợ Bến Đá, Bến Đình, chợ Xóm Lưới… dù phát tích từ bến nước nhưng vẫn có những ngõ chợ rất điển hình sau thành tên đường quanh đây. Bây giờ, nơi đây có nhiều công trình cổ mang đậm dấu ấn thời gian. Ai đến đây chỉ ở một ngày đêm sẽ cảm nhận đúng nghĩa trạng thái riêng của ngõ chợ. Đó chính là những mảng văn hóa riêng biệt của người Việt về chợ.

Hoàng Long

 

 

Tags:

Bài viết khác

Tản văn: Chợ bến sông quê

Chợ quê có thể nhóm họp trên mặt đê, ở bãi đất trống, ven đường, hay giữa đình làng... Chợ quê chỉ có dăm cái lều thấp lợp rạ mỏng, vài dãy quán ngói... mà hầu hết người mua, người bán đều đứng hoặc ngồi giữa trời, nó chỉ sôi động, ồn ã một chốc lúc buổi sáng hay chiều hôm, rồi lại tan chợ.

Tản văn: Mùa xuân quê tôi

Sau một mùa đông, từng tia nắng ấm áp của mùa xuân đã theo tháng giêng về cùng. Ngọn gió giao mùa cứ xôn xao như từng khúc hát gọi xuân về. Ánh nắng của mùa này cũng vàng hơn. Những tia nắng ấm áp báo hiệu một mùa xuân lại đang về. Bầu trời xanh cũng cao hơn cho những đàn chim én bay về.

Tết trong ký ức của con

Tết này, chúng con – những đứa con đã đủ lớn khôn để có thể tự lo cho mình - lại về bên mẹ. Mẹ ơi, đây là nhang để thắp dâng lên ông bà, đây là áo mới tặng mẹ, tặng ba nè. Còn đây nữa, đây là thuốc bổ, là sữa cho mẹ, vì bây giờ trông mẹ yếu lắm. Tết này mẹ đừng lo lắng gì nữa nhé, chúng con đã khôn lớn cả rồi.

Tản mạn: Nét đẹp văn hóa Tết Việt Nam

Tết Việt - hai tiếng thiêng liêng và ấm áp trong trái tim hàng chục triệu người con, dù ở trong lòng Tổ quốc hay còn sống khắp nơi trên hành tinh trái đất. Đó là tài sản tinh thần của nhiều thế hệ đang được gìn giữ và trao truyền lại cho con cháu mai sau.

Tản văn: Mong ước mùa xuân

Mùa xuân đã về, ai cũng cầu mưa thuận gió hòa, ai cũng mong cây xanh lộc biếc! Mùa xuân gắn với quê hương, xứ sở…nhất là trong những ngày Tết Việt đầu năm!

Lính đảo xa nhớ Tết quê nhà

Tết này ngoài đảo xa... chúng con cũng tổ chức vui xuân đêm tất niên để vơi đi phần nào nỗi nhớ... đơn vị cũng có những cây đào, cây mai tươi thắm, cũng có những chiếc bánh chưng xanh vụng về không đủ đầy gia vị do chính tay chúng con gói... chúng con không được về ăn tết cùng gia đình là để làm nghĩa vụ bảo vệ biển đảo thiêng liêng của tổ quốc…

Truyện ngắn: Cây mai chờ ngày Tết

Giữa tháng Chạp, mẹ giục tôi lặt lá mai cho kịp Tết. Công việc này hầu như năm nào tôi cũng đảm nhận. Mọi năm tôi làm rất nhanh, rất hứng khởi, bởi tôi không phải làm một mình mà luôn có bạn trai tôi gọi là “trợ lý”. Tháng Chạp nào “trợ lý” cũng sang nhà để cùng tôi lặt lá mai.

Tản văn: Ký ức những người con xa xứ

Tết là dịp những người con sống xa quê hương như chúng tôi luôn nhớ về quê nhà. Ở nước ngoài, tôi ước mong được hít hà hương lúa đồng quê như hồi còn nhỏ. Bao ký ức trong tôi lại hiện về…
Top