banner 728x90

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể

01/03/2025 Lượt xem: 3129

Quản lý nhà nước với tính chất là một hoạt động quản lý xã hội. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, là hoạt động chấp hành và điều hành có tính tổ chức chặt chẽ, được thực hiện trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.

Quản lý di sản văn hóa là một hình thức, một thực hành quản lý các sản phẩm văn hóa, các nguồn lực văn hóa, đúc kết từ thực tiễn bảo vệ, phục hồi, trao truyền. Quản lý di sản văn hóa về mặt truyền thống liên quan đến việc nhận diện, lý giải, bảo vệ những tài sản văn hóa có ý nghĩa, có giá trị đối với cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Vấn đề quản lý di sản nhận được sự quan tâm đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi phải đối diện với nguy cơ hủy hoại và làm giảm giá trị di sản văn hóa được bảo vệ và phát huy. Những nguy cơ có thể là việc phát triển đô thị, nông nghiệp phát triển trên diện rộng các hoạt động khai thác, giải phóng mặt bằng, lòng hồ thủy điện, thảm họa chiến tranh, thiên tai, phát triển du lịch không bền vững.

Nhằm quản lý di sản văn hóa, nhiều quốc gia đã ban hành nhiều bộ luật nhấn mạnh vào việc nhận diện và bảo tồn các địa danh, tài sản văn hóa, đặc biệt là nơi ở và tài sản của các cộng đồng, dân tộc, bộ lạc. Ở Mỹ, bộ luật đáng chú ý nhất trong hệ thống luật là Luật bảo vệ lịch sử quốc gia. Còn ở Vương quốc Anh là Kế hoạch hướng dẫn chính sách 16. Các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đã có những bộ luật về di sản văn hóa như là công cụ pháp lý để kiện toàn và quản lý hiệu quả các di tích lịch sử, các biểu đạt văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể nhằm đối diện với phát triển, hiện đại hóa.

Việt Nam là một trong số không nhiều quốc gia ban hành Luật Di sản văn hóa (2001) và điều chỉnh, bổ sung (2009), trong đó dành trọn chương V về “Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa”. “Trong Mục 1, tại Điều 54, nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm các công tác chỉ đạo, phối hợp và hỗ trợ cộng đồng thực hiện công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Nhà nước chỉ đạo, định hướng các công tác hoạch định, ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; các hoạt động bảo vệ và và phát huy giá trị di sản văn hóa; nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; huy động các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức khen thưởng; hợp tác quốc tế; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật.

Ảnh minh họa 

Di sản văn hóa phi vật thể thuộc về con người; và chỉ có con người, cộng đồng mới có thể thực hành chúng, duy trì, trao truyền với sự hỗ trợ, định hướng của nhà nước. Do vậy, trước khi có Công ước 2003 ra đời, việc quản lý di sản thường được tiếp cận từ trên xuống, từ Trung ương đến địa phương, nhấn mạnh quản lý hành chính, điều hành của các cơ quan nhà nước. Sự tham gia của cộng đồng, các bên liên quan thực sự được quan tâm khi Công ước 2003 ra đời và trong các diễn đàn, hội nghị quốc tế về di sản văn hóa. Cụ thể, trong Điều 15 của Công ước 2003 chỉ rõ vai trò của cộng đồng trong quản lý di sản. Điều này đã giúp cho nhiều quốc gia thành viên nhìn nhận lại cách thức quản lý theo hệ thống ngành dọc, từ Trung ương đến địa phương, cũng như xem xét lại mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với vai trò cộng đồng và chú trọng đến việc phân cấp rõ ràng giữa các ban ngành, các cơ quan.

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể không đơn giản chỉ có công tác quản lý hành chính, hoạch định các chiến lược, chính sách, mà còn phải thực thi những chức năng của mình. Cụ thể, nhà nước thực hiện các chức năng chỉ đạo, điều hành, phối hợp, và hỗ trợ cộng đồng về nguồn lực (tài chính, nhân lực, vật lực), về kiểm tra, giám sát… Và vì vậy, ngay chính trong Công ước 2003 đã chỉ ra rõ những chức năng của các quốc gia thành viên trong việc hỗ trợ thực hiện các biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Cộng đồng đóng vai trò trong việc đưa ra những quy định và bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, và phù hợp với những ràng buộc về mặt pháp lý của nhà nước để thực thi các biện pháp bảo vệ thông qua các thể chế nhà nước. Theo Công ước di sản văn hóa phi vật thể, nhà nước giữ vai trò lãnh đạo, định hướng và kiểm soát việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, mặc dù thừa nhận về vai trò cần thiết của cộng đồng. Luật pháp quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể khó hòa giải được việc nhấn mạnh vào sự tham gia của cộng đồng và vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể với vai trò quản lý tập trung của nhà nước. Và đây cũng là vấn đề được bàn cãi nhiều trong các cuộc họp của các chuyên gia UNESCO, các Trung tâm được thành lập dưới sự bảo trợ của UNESCO và các tổ chức phi chính phủ. Ủy ban Liên chính phủ về Công ước 2003 không thể yêu cầu, hay bắt buộc mỗi quốc gia thành viên trao quyền cho cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể mà không có sự can thiệp chính sách của nhà nước và sự lãnh đạo, định hướng của nhà nước. Khi xây dựng luật pháp trong bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, trách nhiệm của các quốc gia là tôn trọng các nguyên tắc về sự tham gia của cộng đồng, và về mặt pháp lý xác định, trao truyền văn hóa cho cộng đồng như là những người quản lý, thực hành và bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Trên thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới, tiêu biểu như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, hay các thành viên của Liên minh châu Âu và châu Phi đã nhận thấy tầm quan trọng của các nguồn lực văn hóa và thiết lập những đơn vị quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Còn ở Việt Nam, chúng ta có cả một hệ thống quản lý từ các Bộ, ngành Trung ương đến các tỉnh, thành phố, huyện/thị trấn, xã, thôn/bản, có các đơn vị phụ trách và bộ máy điều hành, quản lý văn hóa, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

Tags:

Bài viết khác

Lễ hội chùa Ông (Đồng Nai): Giữ hồn di sản, kết nối cộng đồng Hoa – Việt

Ngày 26-2 (nhằm mùng 10 tháng Giêng), Lễ hội chùa Ông lần XI năm 2026 tại Biên Hòa bước vào cao điểm với nghi thức Nghinh thần rộn ràng trên sông và các tuyến phố trung tâm, thu hút hàng ngàn người dân, du khách tham gia. Diễn ra trong 5 ngày (từ 25-2 đến 1-3), lễ hội không chỉ tái hiện những nghi lễ truyền thống đặc sắc của cộng đồng Hoa – Việt mà còn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo điểm nhấn du lịch tâm linh đầu xuân của Đồng Nai.

Linh tượng ngựa trấn giữ chiều sâu tâm thức Việt

Trong dòng chảy thâm trầm của di sản Việt Nam, giữa những mái đình rêu phong, những cột chùa nâu trầm, có những linh tượng lặng lẽ nhưng uy nghi đứng bên những ban thờ - đó là Ông Ngựa.

Nét tinh túy trong ẩm thực Tết Việt

Tết Nguyên Đán truyền thống của người Việt là dịp lễ quan trọng nhất trong năm, được người Việt đón chào từ Tết Táo Quân (23 tháng chạp ÂL) và kéo dài đến ngày cúng Đất đai (Mồng 9 tháng Giêng). Giữa những ngày Tết có bao nhiêu lễ cúng khác, từ Tất niên (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch), lễ rước ông bà, cúng Giao thừa, đến lễ Khai hạ (mồng 7 tháng Giêng)…

Chùa Ông Bắc (Bắc Đế Miếu) – Di sản lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại Long Xuyên

Chùa Ông Bắc, tên gọi chính thức là Bắc Đế Miếu, là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của cộng đồng người Hoa tại phường Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ngôi miếu mang giá trị đặc biệt về lịch sử hình thành, kiến trúc truyền thống và đời sống tín ngưỡng, phản ánh rõ nét quá trình định cư, cộng cư và giao thoa văn hóa Hoa – Việt tại vùng đất Nam Bộ.

Đàn ching kram trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên

Đàn ching kram, còn gọi là chiêng tre, không chỉ là một nhạc cụ truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa, kết tinh đời sống tinh thần của người Ê Đê nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung. Với các nghệ nhân, ching kram không đơn thuần là phương tiện diễn tấu âm nhạc, mà là cách để kết nối với cội nguồn, với thiên nhiên và những giá trị văn hóa được truyền qua nhiều thế hệ.

Nước mắm – tinh hoa hồn biển trong văn hóa Việt

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, nguồn hải sản phong phú cùng khí hậu gió nắng đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa. Trong điều kiện tự nhiên ấy, từ rất sớm, cư dân ven biển đã sáng tạo nên nước mắm – loại gia vị mặn mà, đậm đà, kết tinh tinh hoa của biển cả và trí tuệ dân gian Việt Nam.

Văn hóa Đông Sơn – Nền tảng rực rỡ của văn minh Việt cổ

Văn hóa Đông Sơn là một trong những đỉnh cao tiêu biểu của văn minh Việt cổ, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa bản địa của cư dân người Việt trong thời kỳ tiền – sơ sử. Trên nền tảng văn hóa này, các nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc như Văn Lang thời các Vua Hùng và Âu Lạc dưới triều An Dương Vương đã được hình thành, mở đầu cho tiến trình dựng nước lâu dài của dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật múa Khmer – Di sản văn hóa Tây Ninh

Tây Ninh là vùng đất hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa, nơi các giá trị truyền thống của cộng đồng các dân tộc vẫn được gìn giữ và phát huy trong đời sống đương đại. Trong bức tranh văn hóa đa sắc ấy, nghệ thuật múa truyền thống của đồng bào Khmer, tiêu biểu là múa chằn và múa Apsara, giữ vai trò quan trọng, góp phần làm nên bản sắc riêng của địa phương.
Top