banner 728x90

Linh vật trong văn hóa truyền thống Việt Nam

13/03/2025 Lượt xem: 3158

Linh vật được sử dụng như những biểu tượng văn hóa để truyền đạt ý niệm và niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng; góp phần quan trọng phản ánh diễn trình phát triển của nghệ thuật thuật tạo hình Việt Nam.

Cặp rồng đá khu di tích Thành Cổ Loa, Hà Nội.

Linh vật là những con vật trong huyền thoại hoặc có thật được linh thiêng hóa, bao gồm: rồng, phượng, nghê, lân, sư tử, voi, ngựa…

Trong truyền thống văn hóa Việt, linh vật được sử dụng như những biểu tượng văn hóa để truyền đạt ý niệm và niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng… Bên cạnh đó, linh vật cũng góp phần quan trọng phản ánh diễn trình phát triển của nghệ thuật tạo hình Việt Nam.

Những loại linh vật này do người Việt Nam trực tiếp sáng tạo ra hoặc là sản phẩm của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa bên ngoài. Trong quá trình đó, linh vật vừa mang những đặc điểm chung, phù hợp với truyền thống văn hóa Việt vừa có những biển đổi, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc trưng của mỗi thời kỳ.

Rồng, sư tử, nghê và phượng là những linh vật xuất hiện phổ biến.

Thời Lý-Trần, Phật giáo là quốc giáo. Bởi vậy, hình tượng rồng thời kỳ này cũng chịu sự ảnh hưởng của Phật giáo.

Rồng thời Lý-Trần có tính biểu tượng cao và đặc điểm tạo hình đẹp, thống nhất (uốn lượn đều đặn, thắt túi nhỏ dần về đuôi; tùy từng môtíp trang trí lớn hay nhỏ mà con rồng có vẩy hoặc không). Thời kỳ này, hình tượng rồng thường xuất hiện trong các công trình kiến trúc (dùng để trang trí thành bậc, bệ thờ, ngói…); là điểm nhấn trang trí tạo nên vẻ đẹp của nhiều di tích như Hoàng thành Thăng Long, chùa Thầy (Hà Nội), chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chù Phổ Minh (Nam Định)…

Đến thời kỳ Lê sơ, Nho giáo phát triển mạnh. Tạo hình rồng có nhiều thay đổi, rời xa tạo hình thời Lý-Trần. Rồng trở thành biểu tượng cho uy quyền nhà vua. Ví dụ, những con rồng trên bia lăng các vua Lê (Thanh Hóa) có tạo hình đầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón…

Bảo vật quốc gia Thành bậc thời Lê trung hưng

Tới thời Mạc, Lê Trung Hưng, hình tượng rộng tiếp tục có nhiều biến đổi: đầu cân đối, đường cong trán lớn, hàm mở rộng vừa phải có răng nanh phô diễn uy quyền, bờm được chạm khắc uyển chuyển như đang chuyển động…

Trong các kiến trúc làng xã, đặc biệt là ở xứ Đoài, tạo hình rồng mang nhiều yếu tố dân gian: cặp mắt to tròn, tai xòe rộng, hàm mở rộng…

Hình tượng sư tử trong các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, tượng thờ truyền thống được du nhập vào Việt Nam qua con đường Phật giáo. Sư tử thường được coi là linh vật bảo hộ cho các đền, chùa.

Theo phó giáo sư-tiến sỹ Tống Trung Tín (Hội Khảo cổ học Việt Nam), thời gian qua, có nhiều người nhầm lẫn trong việc sử dụng hình tượng linh vật này (không phân biệt được sự khác nhau giữa sư tử đá của Việt Nam và sư tử đá của Trung Quốc.

Đôi sư tử đá chùa – đền Bà Tấm, Gia Lâm (Hà Nội).

Ở Việt Nam, sư tử đá là những con sư tử dạng cách điệu, được chạm khắc công phu, trau chuốt với những đường nét mềm mại, mang nhiều nét dân gian, có phần gần giống hổ hoặc lân; biểu hiện rất rõ sức mạnh phi phàm nhưng vẫn giữ được dáng vẻ vẫn hết sức gần gũi, bao dung.

Trong khi đó, ở Trung Quốc, sư tử đá là linh vật để canh mộ có hình thức dữ dằn, gân guốc với dáng vẻ đe dọa. Khi du nhập vào Việt Nam theo kiểu sao y bản chính, những con sư tử đá này ngang nhiên “chễm chệ” ở lối ra vào các đình, chùa, công sở và một số nhà dân với ý nghĩa giúp phát tài phát lộc.

Hiện nay, giới nghiên cứu vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về hình tượng linh vật này: có ý kiến cho rằng, đó là một con vật thần thoại (vốn là con của rồng) nhưng cũng có ý kiến cho rằng, đó là con chó được thiêng hóa để phụng sự các vị thần.

Tạo hình nghê ở Việt Nam có nhiều dạng khác nhau: khi thì uy nghi, lúc lại đùa giỡn thân thiện. Hình tượng nghê phát triển mạnh vào thời kỳ Lê Trung Hưng, được sử dụng để trang trí các công trình kiến trúc, phù điêu, đồ gốm sứ, đứng chầu bên hương án, cửa khám…

Đôi nghê đá (thế kỷ 17)

Với tạo hình gần gũi, ngoài chức năng là một chỉ hiệu về cõi thiêng, nghê còn mang trong mình ý nghĩa biểu tượng về cầu mong mưa thuận gió hòa, gắn với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp.

Thời Lý-Trần, hình tượng phượng được sử dụng nhiều trong các mảng chạm khắc tại các công trình kiến trúc hay những tác phẩm điêu khắc trang trí, biểu trưng cho yếu tố nữ.

Ở thời kỳ này, phượng có lối tạo hình chung: nhìn nghiêng, hai con đăng đối ứng trong lá đề, phía dưới là một hình mây xoắn, lông đuôi dài bay uốn lượn lên phía trên. Phía trong cốt đuôi được thể hiện thành những chấm tròn chạm thành dải dài lượn sóng và chạy dài nhỏ dần về cuối. Hai cánh phượng dang rộng. Cổ phượng ngắn, mắt tròn, đầu nhỏ, bờm gáy cũng đang bay vút lên phía trên.

Bức điêu khắc gỗ hình phượng tại chùa Thái Lạc, Hưng Yên.

Từ thời Lê về sau, tạo hình phượng có nhiều thay đổi theo lối dân gian gần gũi, hình khối tự nhiên; được dùng để trang trí trên những cấu kiện gỗ ở các công trình kiến trúc, đồ thờ.

Ban Nghiên cứu VHTN

 

Tags:

Bài viết khác

Di tích Giàn Gừa và miễu Bà Thượng động Cố Hỷ

Từ trung tâm TP. Cần Thơ theo hướng cầu Cái Răng trên Quốc lộ 61C, đoạn gần đến cầu Rạch Sung có con đường xi măng dẫn vào, quẹo trái theo bảng chỉ dẫn sẽ đến Khu di tích Giàn Gừa. Đây là một quần thể kết hợp giữa phong cảnh thiên nhiên độc đáo và tín ngưỡng dân gian huyền bí, tạo nên một dấu ấn khó phai cho những ai từng đặt chân đến.

Nhà cổ Trăm Cột xã Long Hựu (tỉnh Tây Ninh) – Dấu ấn nhà rường Huế giữa miền Tây

Huyện Cần Đước, tỉnh Long An cũ (nay thuộc tỉnh Tây Ninh) không chỉ nổi tiếng với đặc sản gạo nàng thơm Chợ Đào mà còn là vùng đất giàu giá trị di sản văn hóa. Trong đó, Nhà cổ Trăm Cột là công trình kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn nhà rường Huế, hài hòa trong không gian sông nước Nam Bộ.

Ngàn Nưa (Thanh Hóa): Vùng đất thiêng gắn với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

Ngàn Nưa (xã Tân Ninh, tỉnh Thanh Hóa) là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân gian, gắn liền với những dấu mốc quan trọng trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nơi đây không chỉ được biết đến là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Đông Ngô vào thế kỷ III, mà còn nổi tiếng với những truyền thuyết linh thiêng, huyền bí được lưu truyền qua hàng nghìn năm, tạo nên một không gian văn hóa tâm linh đặc sắc của xứ Thanh.

Nhà thờ Năng Gù – Dấu ấn lịch sử của một giáo xứ lâu đời ở An Giang

Nhà thờ Năng Gù là một trong những công trình tôn giáo tiêu biểu của xã Bình Hòa, tỉnh An Giang (trước đây là Xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang), gây ấn tượng bởi kiến trúc cổ kính và không gian thanh bình giữa vùng quê Nam Bộ. Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, nhà thờ không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của giáo dân địa phương mà còn mang giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc.

Đình Điều Hòa (phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp) – Di tích hơn hai thế kỷ trong tiến trình hình thành cộng đồng Nam Bộ

Tọa lạc tại số 101 đường Trịnh Hoài Đức, phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp, đình Điều Hòa là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của vùng đất Mỹ Tho. Công trình phản ánh rõ nét tiến trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân Nam Bộ trong giai đoạn khai phá phương Nam.

Chùa Nhẫm Dương – Dấu ấn lịch sử, tâm linh và khảo cổ giữa miền núi đá vôi Kinh Môn

Chùa Nhẫm Dương, còn gọi là Thánh Quang Tự, nằm tại phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương cũ (nay thuộc phường Nhị Chiểu, thành phố Hải Phòng). Ngôi chùa tọa lạc dưới chân dãy núi Nhẫm Dương, thuộc hệ thống núi đá vôi Yên Tử kéo dài qua khu vực Đông Bắc Bộ – vùng đất được coi là địa linh nhân kiệt của đồng bằng sông Hồng.

Nghệ thuật khảm sành đặc sắc triều Nguyễn

Huế mang trong mình những nét cổ kính trầm mặc bởi những công trình còn mãi với thời gian, những điện đài lăng tẩm nằm bên dòng sông Hương thơ mộng với kiến trúc đa dạng mang đậm chất truyền thống. Và một nghề cổ cũng góp phần tạo nên vẻ đẹp đậm chất Huế chính là nghề khảm sành sứ.

Nhà cổ Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên – dấu ấn kiến trúc hơn một thế kỷ ở Tây Ninh

Tây Ninh hiện có 223 di tích lịch sử – văn hóa, trong đó có Di tích quốc gia đặc biệt Trung ương Cục miền Nam, 50 di tích cấp quốc gia cùng nhiều công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn Nam Bộ từ thế kỷ trước. Giữa hệ thống di sản ấy, nhà cổ của Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên (1854–1914) được xem là một kiến trúc tiêu biểu, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Top