banner 728x90

Linh vật trong văn hóa truyền thống Việt Nam

13/03/2025 Lượt xem: 3655

Linh vật được sử dụng như những biểu tượng văn hóa để truyền đạt ý niệm và niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng; góp phần quan trọng phản ánh diễn trình phát triển của nghệ thuật thuật tạo hình Việt Nam.

Cặp rồng đá khu di tích Thành Cổ Loa, Hà Nội.

Linh vật là những con vật trong huyền thoại hoặc có thật được linh thiêng hóa, bao gồm: rồng, phượng, nghê, lân, sư tử, voi, ngựa…

Trong truyền thống văn hóa Việt, linh vật được sử dụng như những biểu tượng văn hóa để truyền đạt ý niệm và niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng… Bên cạnh đó, linh vật cũng góp phần quan trọng phản ánh diễn trình phát triển của nghệ thuật tạo hình Việt Nam.

Những loại linh vật này do người Việt Nam trực tiếp sáng tạo ra hoặc là sản phẩm của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa bên ngoài. Trong quá trình đó, linh vật vừa mang những đặc điểm chung, phù hợp với truyền thống văn hóa Việt vừa có những biển đổi, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc trưng của mỗi thời kỳ.

Rồng, sư tử, nghê và phượng là những linh vật xuất hiện phổ biến.

Thời Lý-Trần, Phật giáo là quốc giáo. Bởi vậy, hình tượng rồng thời kỳ này cũng chịu sự ảnh hưởng của Phật giáo.

Rồng thời Lý-Trần có tính biểu tượng cao và đặc điểm tạo hình đẹp, thống nhất (uốn lượn đều đặn, thắt túi nhỏ dần về đuôi; tùy từng môtíp trang trí lớn hay nhỏ mà con rồng có vẩy hoặc không). Thời kỳ này, hình tượng rồng thường xuất hiện trong các công trình kiến trúc (dùng để trang trí thành bậc, bệ thờ, ngói…); là điểm nhấn trang trí tạo nên vẻ đẹp của nhiều di tích như Hoàng thành Thăng Long, chùa Thầy (Hà Nội), chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chù Phổ Minh (Nam Định)…

Đến thời kỳ Lê sơ, Nho giáo phát triển mạnh. Tạo hình rồng có nhiều thay đổi, rời xa tạo hình thời Lý-Trần. Rồng trở thành biểu tượng cho uy quyền nhà vua. Ví dụ, những con rồng trên bia lăng các vua Lê (Thanh Hóa) có tạo hình đầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón…

Bảo vật quốc gia Thành bậc thời Lê trung hưng

Tới thời Mạc, Lê Trung Hưng, hình tượng rộng tiếp tục có nhiều biến đổi: đầu cân đối, đường cong trán lớn, hàm mở rộng vừa phải có răng nanh phô diễn uy quyền, bờm được chạm khắc uyển chuyển như đang chuyển động…

Trong các kiến trúc làng xã, đặc biệt là ở xứ Đoài, tạo hình rồng mang nhiều yếu tố dân gian: cặp mắt to tròn, tai xòe rộng, hàm mở rộng…

Hình tượng sư tử trong các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, tượng thờ truyền thống được du nhập vào Việt Nam qua con đường Phật giáo. Sư tử thường được coi là linh vật bảo hộ cho các đền, chùa.

Theo phó giáo sư-tiến sỹ Tống Trung Tín (Hội Khảo cổ học Việt Nam), thời gian qua, có nhiều người nhầm lẫn trong việc sử dụng hình tượng linh vật này (không phân biệt được sự khác nhau giữa sư tử đá của Việt Nam và sư tử đá của Trung Quốc.

Đôi sư tử đá chùa – đền Bà Tấm, Gia Lâm (Hà Nội).

Ở Việt Nam, sư tử đá là những con sư tử dạng cách điệu, được chạm khắc công phu, trau chuốt với những đường nét mềm mại, mang nhiều nét dân gian, có phần gần giống hổ hoặc lân; biểu hiện rất rõ sức mạnh phi phàm nhưng vẫn giữ được dáng vẻ vẫn hết sức gần gũi, bao dung.

Trong khi đó, ở Trung Quốc, sư tử đá là linh vật để canh mộ có hình thức dữ dằn, gân guốc với dáng vẻ đe dọa. Khi du nhập vào Việt Nam theo kiểu sao y bản chính, những con sư tử đá này ngang nhiên “chễm chệ” ở lối ra vào các đình, chùa, công sở và một số nhà dân với ý nghĩa giúp phát tài phát lộc.

Hiện nay, giới nghiên cứu vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về hình tượng linh vật này: có ý kiến cho rằng, đó là một con vật thần thoại (vốn là con của rồng) nhưng cũng có ý kiến cho rằng, đó là con chó được thiêng hóa để phụng sự các vị thần.

Tạo hình nghê ở Việt Nam có nhiều dạng khác nhau: khi thì uy nghi, lúc lại đùa giỡn thân thiện. Hình tượng nghê phát triển mạnh vào thời kỳ Lê Trung Hưng, được sử dụng để trang trí các công trình kiến trúc, phù điêu, đồ gốm sứ, đứng chầu bên hương án, cửa khám…

Đôi nghê đá (thế kỷ 17)

Với tạo hình gần gũi, ngoài chức năng là một chỉ hiệu về cõi thiêng, nghê còn mang trong mình ý nghĩa biểu tượng về cầu mong mưa thuận gió hòa, gắn với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp.

Thời Lý-Trần, hình tượng phượng được sử dụng nhiều trong các mảng chạm khắc tại các công trình kiến trúc hay những tác phẩm điêu khắc trang trí, biểu trưng cho yếu tố nữ.

Ở thời kỳ này, phượng có lối tạo hình chung: nhìn nghiêng, hai con đăng đối ứng trong lá đề, phía dưới là một hình mây xoắn, lông đuôi dài bay uốn lượn lên phía trên. Phía trong cốt đuôi được thể hiện thành những chấm tròn chạm thành dải dài lượn sóng và chạy dài nhỏ dần về cuối. Hai cánh phượng dang rộng. Cổ phượng ngắn, mắt tròn, đầu nhỏ, bờm gáy cũng đang bay vút lên phía trên.

Bức điêu khắc gỗ hình phượng tại chùa Thái Lạc, Hưng Yên.

Từ thời Lê về sau, tạo hình phượng có nhiều thay đổi theo lối dân gian gần gũi, hình khối tự nhiên; được dùng để trang trí trên những cấu kiện gỗ ở các công trình kiến trúc, đồ thờ.

Ban Nghiên cứu VHTN

 

Tags:

Bài viết khác

Bài 3: CỤ TỔ LÊ CÔNG HÀNH VÀ NGHỀ THÊU LÀNG QUẤT ĐỘNG

Để tiếp tục tôn vinh tổ nghề thêu của làng, năm 1992 người dân Quất Động cúng lập bài vị đưa ông Lê Công Hành về thờ ở đình làng cùng với các vị Cao Sơn Đại Vương, Minh Lang Nhạc Bộ Đại Vương. Vào thời nhà Nguyễn nhiều thợ thêu Quất Động đã được triệu vào kinh đô Huế làm việc.

Bài 2: DANH NHÂN VĂN HÓA LỊCH SỬ LÊ CÔNG HÀNH - CỤ TỔ NGHỀ THÊU VIỆT NAM

Theo sử sách ghi lại, cụ Lê Công Hành được triều đình nhà Lê cử đi sứ nhà Minh. Trên đường đi sứ, quan lại nhà Minh không để cho đoàn sứ bộ đi đường chính, mà lại dẫn đi theo đường tắt đến một vùng rừng núi thì đoàn hết cả lương ăn. Lê Công Hành bèn cho chặt tre, đan thành những cái dặm, cái dũi, rồi cho quân lính xuống suối kiếm cá và lên rừng tìm trái cây để ăn. Nhờ đó đoàn sứ bộ vẫn mạnh khỏe, đủ sức tiến thẳng về kinh đô nhà Minh.

Bài 1: DANH NHÂN VĂN HÓA LỊCH SỬ LÊ CÔNG HÀNH - CỤ TỔ NGHỀ THÊU VIỆT NAM

Vào khoảng những năm đầu Công Nguyên, con người đã bắt đầu sử dụng những sợi chỉ nhuộm màu, sợi len và đôi khi cả sợi bạc, vàng hoặc đồng thau... để bắt đầu những đường thêu cơ bản, trang trí họa tiết cho quần áo. Họ thêu thùa hình ảnh những cảnh vật thiên nhiên đơn giản như hoa hay những hình trừu tượng mô phỏng những hoạt động, sinh hoạt của đời sống. Rất nhiều những hiện vật trang phục được tìm thấy trên khắp nơi trên thế giới.

Bài 1: Họ Phùng ở Thạch Đà

Họ Phùng ở Thạch Đà, Mê Linh, Hà Nội xưa gọi là Kẻ Đợ (xã Hoa Đà, huyện Chu Diên, Bộ Văn Lang) thuộc vùng đất Việt cổ địa linh nhân kiệt gắn liền với quê hương Hai Bà Trưng, hai người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, trở thành biểu tượng cho sức mạnh quật khởi, ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Chùa Hang “vương quốc chim” giữa không gian thiền môn hơn 300 năm tuổi ở Vĩnh Long

Giữa những tán cây xanh rợp bóng tại ấp 4, xã Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long, chùa Kompông Chrây (chùa Hang) hiện lên với kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer đặc trưng, trầm mặc và cổ kính. Trải qua gần bốn thế kỷ tồn tại, ngôi chùa vẫn giữ được dấu ấn nguyên bản của kiến trúc Khmer Nam Bộ, đồng thời trở thành một không gian sinh thái hiếm có khi là nơi cư ngụ của hàng vạn cá thể chim cò tự nhiên.

Bà Rịa – Vũng Tàu: Hành trình gần 400 năm hình thành và phát triển

Trải qua gần 400 năm hình thành và phát triển, Bà Rịa – Vũng Tàu đã khẳng định vai trò là một trong những trung tâm kinh tế biển quan trọng của khu vực Đông Nam Bộ. Vùng đất này hội tụ những giá trị đặc biệt, từ Côn Đảo giàu truyền thống lịch sử đến mỏ Bạch Hổ – nơi đưa Việt Nam lên bản đồ dầu khí thế giới.

Lăng mộ Quận công Nguyễn Hữu Hào - Dấu ấn kiến trúc giữa lòng Đà Lạt

Lăng mộ Quận công Nguyễn Hữu Hào với kiến trúc giao thoa giữa Á, Âu và không gian tĩnh lặng đang trở thành điểm tham quan thu hút nhiều du khách.

Tháp cổ Bình Thạnh - Di sản ngàn năm trên đất Tây Ninh

Trên vùng đất Tây Ninh - nơi giao thoa của nhiều lớp trầm tích văn hóa - lịch sử, tháp cổ Bình Thạnh (còn gọi là tháp Ông Công - Prey Prasath On Kong) hiện lên như một chứng tích quý giá của một thời kỳ xa xưa. Trải qua hơn 1 thiên niên kỷ tồn tại, ngôi tháp mang nhiều giá trị kiến trúc độc đáo và là “chứng nhân” của tiến trình phát triển văn hóa cổ ở Nam Bộ.
Top