banner 728x90

Kiến trúc đình làng Việt Nam

20/06/2024 Lượt xem: 3120

Cổng Đình So

Nếu không kể tới một số trường hợp hãn hữu thì hầu hết các Thành hoàng đều được thờ phụng ở đình làng. Ngoài ra, ở đó còn là nơi trung tâm của đời sống tập thể cộng đồng, nơi hội họp của các hương hào, nơi giải quyết các vấn đề hành chính của nội bộ làng, nơi đón tiếp các quan khác cấp trên, nơi xử kiện, nơi sinh hoạt tín ngưỡng của làng, đặc biệt là các nghi lễ liên quan tới thờ cúng Thành hoàng và lễ hội hàng năm.

Đình làng được xây dựng xa làng nhưng làm sao lại có được vị trí là trung tâm của làng. Đó là một tổng thể kiến trúc khá rộng rãi để có thể vừa thờ cúng, tế lễ, lại vừa là nơi hội họp của đông đảo dân làng nơi mở hội hàng năm.

Hầu hết các đình làng có phần kiến trúc hình chữ đinh gồm hai phần: Hậu cung hay đình trong và Tiền tế hay đình ngoài. Phần đình trong để thờ cúng, còn phần đình ngoài để hội họp. Phía trước nhà tiền tế (đình ngoài) là một khoảng sân rộng – nơi mở hội theo “xuân thu nhị kỳ”, có thể hai bên tả hữu có hai dãy nhà ngang dài từ 5 -7 gian, là nơi sửa soạn, chuẩn bị cho ngày lễ tiết và hội hè của đình làng. Từ đường làng vào sân đình là cổng xây bằng hai hay bốn cái trụ cổng, độ rộng đủ để cho việc khiêng ra vào dễ dàng. Phần còn lại là tường bao quanh.

Đình làng Việt Nam

Hậu cung (đình trong) là nơi quan trọng và linh thiên nhất của ngôi đình làng. Nơi đó đặt bàn thờ Thành hoàng. Trên bàn thờ có đặt tượng hay ngai, phủ lên trên là tấm lụa đỏ hoặc vàng, thường có mũ và áo của thần. Trên bàn thờ có đặt tráp hay hộp sơn son thiếp vàng đựng sắc phong của cua cho Thành hoàng, được giữ gìn cẩn mật, thường chỉ ngày lễ hội mới được mở cửa ra đọc. Ngăn cách giữa đình trong (hậu cung) với đình ngoài (tiền tế) là hai cửa ở hai bên tả hữu có chạm trổ, hằng ngày phải đóng kín, khi lễ hội chỉ có các hương hào (cai đám, tế đám) mới được ra vào hậu cung. Trước hậu cung có bày đặt hương án, đồ bát bửu.

Phần nhà tiền tế (đình ngoài), gian giữa nối với hậu cung là nơi tiến hành các nghi lễ tế tự và dâng cúng thần, hai bên tả hữu đình ngoài là bục để dân làng và các quan viên của làng ngồi ăn uống và hội họp. Nơi đây cũng có thể bày đặt một số đồ lễ, như ngựa gỗ (ngựa sơn trắng hay đỏ) hay cáng dành cho nam thần, võng dành cho nữ thần. Các đồ này dùng khi rước thần từ đình đến nghè và ngược lại.

Liên quan tới ngôi đình còn có cái nghè. Nghè có thể ở gần đình hay xa đình, ở nghè chỉ có bàn thờ lộ thiên hay là một ngôi nhà có mái, bên trong có bàn thờ. Ở một số địa phương cho rằng tín ngưỡng thờ Thành hoàng mới chính là nơi ‘thờ trú” của Thành hoàng, khi có lễ tiết, hội hè mới rước Thành hoàng ra đình hành lễ, đến khi kết thúc họ lại rước Thành hoàng trở lại nghè. Cũng có thể giả thiết, nghè là nơi thờ cúng “Thổ thần” trước khi vị đó trở thành Thành hoàng và ngự ngôi đình như hiện nay, mà theo như tài liệu có được thì đình là nơi xuất hiện từ thời Lê  (thế kỷ XV).

Ban Nghiên cứu Tôn giáo

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top