banner 728x90

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

19/03/2025 Lượt xem: 4464

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Thời kỳ thịnh vượng nhất của Chầu văn là vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Bằng cách sử dụng lời ca trau chuốt, nghiêm trang và âm nhạc mang tính tâm linh mà chầu văn được coi là hình thức âm nhạc mang  ý nghĩa hầu Thánh.

Hát Chầu Văn thể hiện khát vọng cao cả của con người hướng tới cái cao đẹp hơn, đó chính là nét cao quý và tinh túy nhất của Chầu văn. Yếu tố tâm linh thể hiện trong hát Văn ở nhiều mặt, không gian tâm linh, tâm linh trong gia đình, cá nhân, cộng đồng, ma chay, cưới xin.

Hát Chầu văn có nhiều hình thức khác nhau gồm: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu, hát thi. Nhịp điệu và tiết tấu có chậm, vừa và nhanh. Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng, đậm nét dân ca đồng bằng Bắc Bộ trong các điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả…và âm hưởng của Ca trù trong các điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú tỳ bà…cũng thể hiện rất rõ nét trong kết cấu giai điệu của âm nhạc trong hát Chầu văn.

Theo phân loại của nghệ nhân dựa trên thực tế, nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam có 2 nhóm: Đàn (giai điệu) và nhạc cụ gõ (phách, cảnh, trống).

Về đàn

Giai điệu trong hát Chầu văn ban đầu chỉ có Đàn Nguyệt sau đó mới thêm vào một số đàn khác như thập lục, nhị, sáo,…
Nhạc cụ không thể thiếu trong hát văn chính là Đàn Nguyệt (trong Nam gọi là đàn kìm): Nguyệt có thể chơi trong các dàn nhạc bát âm hoặc dàn nhạc tài tử nhưng trong hát chầu văn đàn nguyệt thể hiện rõ bản sắc của nó nhất. Thậm chí có thể nói rằng đàn nguyệt là biểu tưởng của âm nhạc hát văn từ hơn một thế kỷ nay, âm thanh trầm và ấm khả năng biến tấu vô tận của đàn nguyệt là một đồng minh không thể thiếu cho cung văn hát văn chầu thánh. Các cụ thường giải thích tên đàn do bầu vang hình căng tròn.


Đàn Nguyệt không thể thiếu trong hát Chầu văn

Sáo là nhạc khí hơi được làm bằng ống trúc hoặc ống nứa già. Sáo có một huyệt thổi hình bầu dục được sử dụng phổ biến tại Việt Nam.
Đàn Tranh là nhạc khí dây gảy loại không có dọc (cần đàn), đàn Tranh rất phổ biến tại Việt Nam và một số nước Châu Á. Đàn Tranh được gia nhập vào Việt Nam và trở thành một nhạc khí trong hệ nhạc khí dân tộc, có nhiều tác giả cho rằng đàn Tranh được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc với tên gọi ban đầu là cây Zeng.
Đàn Nhị là nhạc khí dây kéo (bằng cung vĩ) có ở Việt Nam hàng ngàn năm nay. Đàn Nhị còn có tên gọi là đàn Cò, là nhạc khí phổ biến của dân tộc Việt và nhiều dân tộc khác như dân tộc Mường, Tày, Thái, Giê Triêng, Khmer…
Kèn Bầu là nhạc khí hơi dăm kép, còn được gọi là kèn Già Nam, kèn Loa, kèn Bóp hay kèn Bát. Âm thanh kèn Bầu khỏe, vang, nhạc điệu mạnh thích hợp để thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc.
Đàn Bầu còn gọi là đàn Độc huyền là loại đàn một dây của Dân tộc Việt và một số Dân tộc khác như Mường (Tàn Máng), dân tộc Chăm (Rabap Katoh). Với âm thanh mềm mại, ngọt ngào và sâu lắng đàn Bầu thường được sử dụng để độc tấu, đệm cho ngâm thơ, tham gia trong Ban nhạc Tài tử, Ban nhạc Xẩm. Gần đây, đàn Bầu tham gia trong dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp, Dàn nhạc Giao hưởng Dân tộc, Dàn nhạc Sân khấu Chèo, Cải lương. Đặc biệt đã có tác phẩm viết cho Đàn Bầu độc tấu cùng với Dàn nhạc Giao hưởng.

Về nhạc cụ gõ

Phách là một tấm tre già (cũng có phách làm bằng gỗ) dài độ ba mươi phân, rộng bốn phân, dầy gần 2 phân, hai đầu phách có hai chân cũng làm bằng khúc tre ấy tạc liền khối. Phách còn được dùng trong ả đào.
Cảnh là 1 cái cồng rất nhỏ, như một chiếc đĩa hình tròn đường kính độ mươi mười năm phân có thành xung quanh, là một nhạc cụ mà các thầy cúng hay dùng. Hồi đó thầy Kiêm hay dùng một cái đĩa tráng men thay cảnh vì không muốn mang theo bằng chứng dụng cụ cúng bái theo người.


Nhạc cụ hát Chầu văn

Trống bản (hay còn gọi trống ban) là chiếc trống có hai mặt, kích thước tương đối nhỏ, đường kính từ hai mươi đến ba mươi phân. Mặt trống thường làm bằng da trâu, rất căng, lúc đánh tiếng tương đối căng: toong , toong. Còn loại thứ hai là trống chầu, đường kính nhỏ hơn trống ban nhưng cao hơn, âm hưởng trầm hơn, các cung văn có thể dùng một trong hai loại hoặc ca hai trong một buổi hầu đồng.
Thanh la là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt, được làm bằng hợp kim đồng thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có hình dáng như chiếc Cồng, Chiêng không có núm, mặt hơi phồng, có thành cạnh và không định âm. Cạnh Thanh la có dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính từ 15cm đến 25cm, dùi gõ Thanh la làm bằng gỗ hoặc tre tiện tròn, dài khoảng 20cm.
Tiu Cảnh – nhạc khí tự thân vang gõ do người Việt Nam chế tác. Tiu cảnh gồm hai chiếc Thanh la cỡ nhỏ làm bằng đồng thau, đường kính khoảng 10cm, một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao, với hai âm thanh cao thấp với màu âm thánh thót, âm vang.
Trống Cái được chế tác bằng gỗ có đường kính lớn, được bịt da hai mặt, đường kính khoảng 40cm, 60cm đến dưới 1m. Tang trống cao khoảng 50cm, có 2 đai, có móc treo, mặt trống bằng da trâu hoặc da bò.
 là nhạc khí tự thân vang phổ biến tại Việt Nam, mõ thường được làm bằng gỗ với nhiều kích thước và kiểu dáng khác nhau.

Cung văn

Cung văn là người chuyên hát Chầu văn. Nhiệm vụ đầu tiên của cung văn là hát, nhưng vì mỗi buổi hầu thường kéo dài bốn năm tiếng nên vai trò các nhạc cụ cũng rất quan trọng. Một cung văn nổi tiếng à phải đạt được hai tiêu chuẩn Đàn hay Hát giỏi.
Cung văn thường để phách trước mặt, chiếc cảnh ở bên phải, và dùng ba chiếc que nhỏ để chơi: tay phải cầm que, một que kẹp giữa ngón cái và ngón chỏ, que thứ 2 kẹp giữa ngón giữa và ngón đeo nhân, còn tay trái cầm một que, cả ba cùng chơi một lúc tùy theo nhịp và hát.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

 

Tags:

Bài viết khác

Ngựa trong đời sống dân gian

Ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống con người, vừa là phương tiện di chuyển, vừa là biểu tượng văn hóa dân gian. Trong lịch sử, ngựa đóng vai trò quan trọng trong giao thương, hành chính, quân sự và tín ngưỡng.

Lễ cúng tạ đất cuối năm: Nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh của người Việt

Lễ cúng tạ đất cuối năm là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Đây không chỉ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn của con người đối với các đấng bề trên đã che chở cho gia đình suốt một năm qua.

Bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng ông Công ông Táo?

Mỗi dịp cuối năm, cùng với việc chuẩn bị mâm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời, nhiều gia đình Việt cũng tiến hành dọn dẹp, lau chùi bàn thờ để đón năm mới hanh thông, may mắn. Tuy nhiên, bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng Táo quân vẫn là băn khoăn của không ít người, bởi đây không chỉ là vấn đề phong tục mà còn liên quan đến ý nghĩa tâm linh và sự trang nghiêm của không gian thờ cúng.

Ngựa trong dân gian Việt Nam – biểu tượng lịch sử, văn hóa và khát vọng hanh thông

Trong hệ thống 12 con giáp của người Việt, con Ngựa (Ngọ) không chỉ là dấu mốc thời gian mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử giàu tầng nghĩa, gắn với hành trình dựng nước và giữ nước, với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và cả những quan niệm phong thủy, tử vi đã ăn sâu trong tâm thức dân gian. Nhân Tết Bính Ngọ, khi mùa xuân mở ra những hành trình mới, hình tượng con Ngựa lại trở về như một lời nhắc nhở về ý chí bền bỉ, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa của người Việt.

Nhà thờ họ và từ đường trong đời sống văn hóa – tâm linh người Việt

Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống bền vững và giàu ý nghĩa nhất. Đây không chỉ là hoạt động mang tính tâm linh mà còn thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn của con cháu đối với các thế hệ đi trước. Chính từ nền tảng ấy, nhà thờ họ và từ đường đã ra đời như những không gian thiêng, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.

Văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng trong đời sống cộng đồng.

Trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ là hệ thống niềm tin tâm linh, tín ngưỡng Tày – Nùng còn là môi trường tích hợp và sản sinh nhiều giá trị văn hóa, góp phần định hình bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.

Các nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục truyền thống quan trọng trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đây là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính và nhớ về cội nguồn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các nghi thức, nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên thường được thực hiện trong các dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ tổ, lễ cúng ông Công ông Táo, và nhiều dịp quan trọng khác. Dưới đây là một số nghi thức và nghi lễ phổ biến trong thờ cúng tổ tiên:
Top