banner 728x90

Các nghi lễ ở đình

21/06/2024 Lượt xem: 4766

Một trong những chức năng quan trọng của ngôi đình là nơi cúng lễ hằng năm. Ngoài ngày mồng một (lễ sóc) và ngày rằm (lễ vọng), người ta cúng lễ các Thành hoàng ở đình vào ngày đầu tháng của tháng 2, tức ngày Xuân tế, ngày đầu của tháng 8, tức Thu tế, ngày lễ Hạ điền (ngày xuất ruộng cấy lúa) và Thượng điền (cây lúa xong), ngày lễ Thường tân (nếm vật mới), tức ngày cơm mới vào tháng chín, ngày Thượng nguyên (rằm tháng giêng), tức lễ Kỳ yên và ngày Trung nguyên (rằm tháng bảy), tức ngày xá tội vong nhân, ngày mồng bảy tháng giêng làm lễ Khai ấn, tức ngày bắt đầu vào công việc thường năm.

Tế thần - Nghi lễ thờ cúng Thành hoàng tại đình

Người ta còn cúng thân vào các lễ tiết khác hằng năm: Hàn thực (3/3), Đoan ngọ (5/5), Trung thu (15/8), Lạp tiết (12/12). Ngoài ra, khi dân làng có sự bất thường: tang lễ, đám cưới, khao vọng… đều phải có đèn nhang cúng Thành hoàng.

Ngày lễ hội quan trọng nhất của một năm là ngày vào đám – vào hội. Đó là dịp vào mùa xuân hay mùa thu hay ngày sinh nhật, kỵ nhật của Thành hoàng. Trước khi vào hội, người ta phải làm lễ nhập tịch. Từ ngày nhập tịch đến ngày hội có thể kéo dài ngày. Trong khoảng thời gian đó, cả làng phải thực hiện một số kiêng kỵ, nhất là không được có tang lễ. Nếu làng có người chết thì phải chôn cất giấu hay quàn xác qua thời gian hội làng mới được phát tang.

Trong những ngày hội làng, người ta tiến hành nghi lễ rược thần từ nghè tới đình hay từ đình tới chùa hay đền, điều đó tùy thuộc vào mối quan hệ giữa các nơi thờ cúng đó của làng: đình – đền – chùa. Cũng có thể có hình thức rước giao hiếu giữa các đình của làng kề cận, nếu như họ có cúng Thành hoàng hay các Thành hoàng đó có mối quan hệ thân thuộc nào đó.  Nghi thức quan trọng nhất của hội làng là tế. Người ta thường phân biệt giữa lễ và tế. Lễ là nghi thức cúng lễ theo như lịch trình hàng tháng hằng năm đã nêu trên, còn tế là nghi lễ chỉ thực hiện vào dịp hội làng; lễ tế Xuân và lễ tế Thu.

Tế được quy định nghiêm ngặt, đòi hỏi tổ chức chặt chẽ, huy động nhiều người cùng phối hợp thực hiện. Trước nhất là cúng tế, hai bồi tế; đông xướng và tây xướng, các chấp sự (tức người phục vụ cho chủ tế việc dâng  hương, rượu trong khi tế). Số người chấp sự có thể từ 2 – 8 người, càng đông cuộc tế càng lớn và long trọng. Những người tham gia tế ăn mặc theo quy cách riêng; mặc áo dài xanh, mũ có dải, đi giày vải hoặc nhung. Những năm gần đây phổ biến đội tế nữ quan, mặc áo dài vàng hay đỏ, đội khăn dây quấn trên đầu.

Trước bàn thờ diễn ra cuộc tế có trải 3 chiếc chiếu; chiếu gần bàn thờ là chiếu dâng rượu và đọc lời nguyện cầu, chiếu thứ hai dành cho ẩm phúc (uống phúc), chiếu thứ ba dành cho chủ tế đứng khi làm lễ. Các bồi tế đứng sau chủ tế, các chấp sự chia thành hai nhóm đứng bên phải và trái chủ tế. Đông xướng và tây xướng đứng hai bên hướng mặt vào chủ tế. Mọi hành động của người hành lễ phải nhất nhất tuân theo lời của Đông xướng hô to và Tây xướng lặp lại. Việc lễ lạy trước bàn thờ cũng phải theo đúng quy cách: 10 lạy, 3 lần dâng rượu, 4 lạy rước thần…

Ông Nguyễn Văn Khoan trong công trình: phác thảo về Đình và sự thờ phụng thần Thành hoàng của các làng ở Bắc kỳ đã liên tục kê ra 48 nghi thức nối tiếp nhau của một lễ tế. Là nghi thức tôn vinh thần Thành hoàng, thường một buổi tế như vậy kéo dài nhiều giờ, luôn luôn giữ vẻ thành kính, trang nghiêm, không được để điều gì sơ suất. Có những cuộc hội làng không chỉ có một cuộc tế, mà có thể có nhiều cuộc tế, tùy theo cơ cấu tổ chức xã hội của làng. Trong cuộc tế, nhạc tế chủ yếu chỉ dùng trống và chiêng. Sau khi kết thúc các nghi lễ thờ cúng, các quan viên của làng tổ chức ăn uống. Tuy nhiên, việc sắp xếp các quan viên vào cỗ cũng phải theo tuổi tác và ngôi thứ.

Ban Nghiên cứu Tôn giáo

 

Tags:

Bài viết khác

Tục cúng việc lề của dòng họ Phạm ở Rạch Rích

Theo gia phả của một số gia đình ở Tây Ninh, vùng đất Rạch Rích thuộc làng Tân Bửu (nay là xã Lương Hòa, tỉnh Tây Ninh) được coi là một trong những nơi người Việt đến định cư từ rất sớm. Trong đó, dòng họ Phạm là một trong những dòng họ đến khẩn hoang đầu tiên tại vùng đất này.

Lễ đón Tết Chol Chnam Thmay của đồng bào dân tộc Khmer xã Ninh Điền (Tây Ninh)

Tết Chol Chnam Thmay (Tết Năm mới) là lễ hội quan trọng nhất trong năm của người Khmer. Đây là dịp thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên, cầu mong sự an lành và thịnh vượng cho gia đình trong năm mới.​ Ngày 14/4, đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh cùng nhau tổ chức lễ giao thừa, đón chào năm mới ấm áp, vui tươi, chính thức bắt đầu một năm mới theo phong tục, văn hóa của người Khmer.

Đám cưới người Sán Dìu - Một cách trao truyền nét đẹp văn hóa truyền thống

Đám cưới của người Sán Dìu ở Đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh không chỉ là chuyện trăm năm của đôi lứa, mà còn là bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc. Qua từng nghi lễ, cộng đồng gửi gắm những quan niệm sâu sắc về gia đình, đạo hiếu và hạnh phúc.

Hoa ban – biểu tượng văn hóa của núi rừng Tây Bắc

Đến Tây Bắc vào những ngày mùa xuân, người ta dễ dàng cảm nhận một hương sắc rất riêng của núi rừng. Đó là hương của đất trời, của những triền đồi và của mùa hoa ban nở trắng mỗi độ tháng Ba về.

Tục Mừng tuổi ngày Tết

Tục mừng tuổi đã là một phần không thể tách rời của văn hóa người Việt trong suốt lịch sử. Nó gắn liền với những ước vọng tốt đẹp trong ngày đầu xuân năm mới, truyền tải những lời chúc may mắn, sức khỏe và thành công cho mọi người

Mâm ngũ quả trong văn hóa 3 miền Bắc – Trung - Nam

Bên cạnh các món ăn truyền thống, mâm ngũ quả là một phần không thể thiếu trong ngày tết cổ truyền của người Việt Nam. Trước là thờ cúng tổ tiên, sau là ước mong năm mới được an khang, thịnh vượng hơn năm trước. Theo thời gian, dù có nhiều thay đổi về văn hoá nhưng tập tục này vẫn lưu truyền trong gia đình Việt bởi ý nghĩa nhân văn của nó.

Các loại bánh truyền thống trong mâm cỗ Tết Việt

Bánh là một trong những món ăn không thể thiếu của ngày Tết cổ truyền ở Việt Nam. Tùy theo từng vùng miền sẽ có loại bánh biểu tượng riêng và mang những ý nghĩa vô cùng đặc biệt.

Phong tục Tết Việt Nam

Lễ tết là một bộ phận đời sống văn hóa tinh thần quan trọng của văn hóa truyền thống Việt Nam. Lễ Tết thường tập trung vào thời điểm đầu năm, phù hợp với thời tiết và thời vụ vì thế nó ăn sâu vào ý thức dân tộc. Tuy các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghi thức Lễ Tết Việt Nam đều xuất xứ từ Trung Hoa, nhưng thực chất thì phong cách, tâm hồn và truyền thống đều thể hiện rõ bản sắc Việt Nam.
Top