banner 728x90

Sen Dolta - lễ hội truyền thống gìn giữ bản sắc văn hóa của người Khmer

07/05/2024 Lượt xem: 3060

Khmer là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ. Các lễ hội truyền thống của người Khmer là yếu tố góp phần tạo nên nền văn hóa dân gian đặc sắc cho dân tộc này. 

Hàng năm, vào ngày 29/8 đến mùng 1/9 âm lịch, đồng bào dân tộc Khmer ở miền Tây Nam Bộ lại tưng bừng tổ chức lễ Sen Dolta nhằm tưởng nhớ đến công ơn bậc sinh thành, những người trong thân tộc quá cố và tri ân tổ tiên đã khai phá đất đai, phù hộ cho phum, sóc được bình an, thịnh vượng. Lễ Sen Dolta từ lâu được xem là một trong những lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ được lưu giữ qua nhiều thế hệ.

Người Khmer thực hiện các nghi lễ trong dịp lễ Sen Dolta

Theo tiếng Khmer, từ “Sen” có nghĩa là cúng, còn “Dol” có nghĩa là bà, “Ta” nghĩa là ông. Lễ Sen Dolta của đồng bào dân tộc Khmer có ý nghĩa như lễ vu lan báo hiếu thể hiện tấm lòng thành kính với ông bà tổ tiên đã khuất. Lễ Sen Dolta luôn được bà con đồng bào dân tộc Khmer chuẩn bị hết sức chu đáo. Thông thường, mỗi gia đình sẽ cử 1 hoặc 2 thành viên đến hỗ trợ nhà chùa làm những công việc chuẩn bị cho ngày lễ như: treo cờ phướn, dọn cỏ, quét dọn khuôn viên tháp đựng cốt, sơn phết tháp…

 Các gia đình cũng tranh thủ dọn dẹp nhà cửa, bàn thờ và chuẩn bị nhiều món ăn truyền thống để dâng cúng ông bà, tổ tiên. Tùy theo điều kiện kinh tế từng nhà, mỗi người sẽ có cách chuẩn bị khác nhau nhưng lễ vật thường có điểm chung đều là những món ăn bình dị, gần gũi mang đặc trưng của người Khmer Nam bộ.

Nơi diễn ra lễ hội: tại gia đình người Khmer. Trung tâm lễ hội tại các chùa Khmer và các Phum sóc Khmer.

Nghi thức thả ghe đưa ông bà tổ tiên về cội nguồn

Ngày  thứ nhất: mỗi gia đình đều dọn dẹp nhà cửa khang trang, lau chùi bàn thờ tổ tiên sạch sẽ, trang hoàng lộng lẫy. Sau đó, dọn bốn chén cơm ngon trên mỗi bàn, đốt đèn rồi mời mọi người trong gia đình cùng cúng. Mọi người cùng nhau khấn vái và rót trà để mời linh hồn những họ hàng đã quá cố về nhà ăn uống, nghỉ ngơi. Đến chiều, họ tắm rửa sạch sẽ, cúng linh hồn ông bà và sau đó mời ông bà cùng họ đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh lấy phước. Tại chùa, phần lễ sắc thái tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức, hoạt động khác mang tính hội hè như du kê, Lò-khol Bác-sắc, múa Lâm-thol…

Ngày thứ hai: Sau khi đã ở chùa suốt một ngày – đêm, đến chiều mọi người cùng nhau rước linh hồn ông bà từ chùa về nhà để mời cơm và mời ở nhà chơi với con cháu đến khi lễ kết thúc mới trở lại chùa.

Ngày thứ ba: Mỗi gia đình lại chuẩn bị thức ăn, bánh trái như ngày đầu để cúng ông bà tại nhà trước khi tiễn linh hồn người quá cố ra đi. Vì vậy, buổi cúng này gọi là “cúng tiễn đưa”. Khi mọi nghi thức cúng vái hoàn tất thì cũng là lúc lễ Dolta xem như kết thúc.

Kết thúc lễ Dolta là nghi lễ đưa tiễn ông bà. Do cuộc sống gắn với miền sông nước nên người Khmer thường chế tác thuyền đưa tiễn ông bà từ bẹ chuối với hình nộm người chèo lái. Trong thuyền còn được đặt nhiều vật dụng như lộ phí, bánh trái, nước ngọt được làm bằng giấy.

Ban Nghiên cứu Văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên - nét đẹp văn của người Việt Nam

Thờ tổ tiên là một nét đẹp văn hóa của người Việt xưa và nay. Bàn thờ tổ tiên là một phần không thể thiếu trong mỗi gia đình, không kể giàu nghèo hay địa vị xã hội.

Ngựa trong đời sống dân gian

Ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống con người, vừa là phương tiện di chuyển, vừa là biểu tượng văn hóa dân gian. Trong lịch sử, ngựa đóng vai trò quan trọng trong giao thương, hành chính, quân sự và tín ngưỡng.

Lễ cúng tạ đất cuối năm: Nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh của người Việt

Lễ cúng tạ đất cuối năm là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Đây không chỉ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn của con người đối với các đấng bề trên đã che chở cho gia đình suốt một năm qua.

Bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng ông Công ông Táo?

Mỗi dịp cuối năm, cùng với việc chuẩn bị mâm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời, nhiều gia đình Việt cũng tiến hành dọn dẹp, lau chùi bàn thờ để đón năm mới hanh thông, may mắn. Tuy nhiên, bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng Táo quân vẫn là băn khoăn của không ít người, bởi đây không chỉ là vấn đề phong tục mà còn liên quan đến ý nghĩa tâm linh và sự trang nghiêm của không gian thờ cúng.

Ngựa trong dân gian Việt Nam – biểu tượng lịch sử, văn hóa và khát vọng hanh thông

Trong hệ thống 12 con giáp của người Việt, con Ngựa (Ngọ) không chỉ là dấu mốc thời gian mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử giàu tầng nghĩa, gắn với hành trình dựng nước và giữ nước, với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và cả những quan niệm phong thủy, tử vi đã ăn sâu trong tâm thức dân gian. Nhân Tết Bính Ngọ, khi mùa xuân mở ra những hành trình mới, hình tượng con Ngựa lại trở về như một lời nhắc nhở về ý chí bền bỉ, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa của người Việt.

Nhà thờ họ và từ đường trong đời sống văn hóa – tâm linh người Việt

Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống bền vững và giàu ý nghĩa nhất. Đây không chỉ là hoạt động mang tính tâm linh mà còn thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn của con cháu đối với các thế hệ đi trước. Chính từ nền tảng ấy, nhà thờ họ và từ đường đã ra đời như những không gian thiêng, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.

Văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng trong đời sống cộng đồng.

Trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ là hệ thống niềm tin tâm linh, tín ngưỡng Tày – Nùng còn là môi trường tích hợp và sản sinh nhiều giá trị văn hóa, góp phần định hình bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.
Top