banner 728x90

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ Phủ

28/08/2024 Lượt xem: 5020

Thần linh chỉ trở thành linh thiêng khi được con người tín thờ, ngưỡng vọng, khi thần linh đó nảy sinh từ ngay chính nhu cầu và nguyện vọng thiết thân của con người, trong một hoàn cảnh xã hội nhất định của con người. Đừng đi tìm sự xác thực lịch sử ở các hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng vì ở đó chỉ có sự xác tín. Mà với con người nhiều khi sự xác tín còn cao hơn và quan trọng hơn sự xác thực.

Những tư liệu thư tịch ghi chép về tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ Lên đồng còn lại quá ít ỏi. Trong “Thiền Uyển tập anh” nói về nhà sư Khánh Hỷ thời Lý Thần Tông (trụ trì ở chùa Từ Liêm, mất năm 1135), khi cùng thầy đến nhà thí chủ, Khánh Hỷ hỏi thầy rằng “ý nghĩa của Tố Thiền là thế nào mà thầy đến nhà dân nghe đồng cốt?”. Bản tịch trả lời “Hỏi như vậy chẳng hóa ra đồng cốt giáng thần à?”.

Điện thờ Tam phủ

Tư  liệu mô tả ít ỏi về “đồng cốt” trong “Thiền Uyển tập anh” nêu trên thật khó xác định đó là tục “đồng cốt” nói chung (với các dạng “đồng thiếp”, “đồng nồi”, “đồng cối”…) hay là tục Lên đồng (cũng gọi là đồng cốt) của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ. Theo quan niệm khá phổ biến hiện nay thì tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ với nghi thức Lên đồng chỉ xuất hiện từ sau thế kỷ XV với sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Ca dao thời Lê (hậu Lê) mà sau này được ghi lại trong “Nam Phong giải trào” cũng có những câu nhắc tới hiện tượng đồng cốt:

“Bà cốt đánh trống long bong

Nhảy lên nhay xuống cái ong đốt…”

Thượng Kinh ký sự thời Lê của Lê Hữu Trác có kể lại một buổi ngồi đồng. Năm 1781, ông từ Thanh Hóa ra Thăng Long, qua xã Kim Khê nghỉ lại và được mời dự buổi lên đồng: “Tôi nghỉ ở trạm Kim Khê quan văn thư làm lễ vào yết miếu làng ấy, ông có đặt một tiệc hát và cho mời tôi thấy một “cô đồng” đang hầu giá nhà Thánh vua đảo vừa nói lảm nhảm. Có người bảo tôi rằng Thánh Mẫu ở đây linh ứng lắm, cụ vào kinh, có muốn việc gì thì cứ kêu ngài. Tôi trả lời rằng, phàm ai cũng cần lấy cái sở đắc, chứ có ai cầu cái sở thất, bụng tôi không nguyện đắc cái gì thì cầu làm chi. Cô đồng nghe tủm tỉm cười, quan văn thư cũng trông tôi cả cười”.

Những tư liệu trích dẫn trên từ thế kỷ XII (thời Lý) đến thế kỷ XVIII (hậu Lê) cho ta thấy ở người Việt có tục “đồng cốt”, đặc biệt thời hậu Lê (qua Nam phong giải trào), còn mô tả kỹ hơn là “Bà cốt” (Bà đồng) vừa nhảy đồng vừa gõ trống. Còn trong tư liệu mô tả của Lê Hữu Trác (1781) thì thực sự là một cuộc Lên đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ. Cũng cần nói thêm rằng việc bà cốt vừa nhảy đồng vừa gõ trống là hiện tượng ngày nay không thấy nữa, vì gõ trống, đàn hát bây giờ là do cung văn đảm nhiệm. Tuy nhiên, việc bà đồng vừa nhảy vừa múa vừa gõ trống thì lại là hiện tượng phổ biến hiện nay của các thầy Shaman của các dân tộc trên thế giới. Như vậy, ít nhất cho tới thời hậu Lê (Lê Chiêu Thống) hiện tượng bà đồng vừa nhảy múa vừa chơi nhạc (gõ trống) vẫn phổ biến ở người Việt.

Tín ngưỡng thờ Tam Tứ Phủ của người Việt

Theo sự tích và huyền thoại được ghi chép trong bi ký và sách Hán Nôm, đặc biệt là sách Vân Cát thần nữ của nữ sĩ Hồng Hà Đoàn Thị Điểm thì thân chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là Công chúa Liễu Hạnh con vua Ngọc Hoàng do mắc lỗi đánh vỡ chén ngọc trong Hội Vườn đào nên đã 3 lần giáng trần. Lần thứ nhất, từ năm 1434-1473 Công chúa Liễu Hạnh giáng sinh vào nhà họ Phạm tại thôn Vỉ Nhuế, xã Trần Xá, huyện Đại An (Ý Yên) tỉnh Nam Định. Lần thứ hai, từ năm 1557-1577, giáng sinh vào nhà họ Lê tại làng Vân Cát, lấy chồng họ Trần (xã An Thái, huyện Thiên Bản, tức Vụ Bản, Nam Định ngày nay). Lần thứ ba, từ năm 1609-1610, công chúa giáng trần vào nhà học Hoàng lấy chồng là Mai Sinh ở làng Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Với ba lần giáng sinh (tam hóa tam sinh) Tiên Chúa Liễu Hạnh đều hiện thân là người phụ nữ tài danh, công dung ngôn hạnh, giúp dân mở mang nghề nghiệp, xây chùa đi tu, khi hóa được nhân dân khắp nơi thờ phụng để ghi nhớ công đức của Tiên Chúa.

Sau ba lần “Tam sinh tam hóa” kể trên, Liễu Hạnh công chúa chu du khắp nơi. Từ Lạng Sơn, Tây Hồ (Hà Nội), Đèo Ngang, Phố Cát, Sòng Sơn…. đã từng chống lại các pháp sư dòng Nội Đạo của vua Lê – chúa Trịnh, sau cùng được Phật Quan Âm giáo hóa quy y, vua Lê phong Thánh, trở thành vị thần chủ Mẫu Tam, Tứ phủ.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

Tags:

Bài viết khác

Ngựa trong đời sống dân gian

Ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống con người, vừa là phương tiện di chuyển, vừa là biểu tượng văn hóa dân gian. Trong lịch sử, ngựa đóng vai trò quan trọng trong giao thương, hành chính, quân sự và tín ngưỡng.

Lễ cúng tạ đất cuối năm: Nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh của người Việt

Lễ cúng tạ đất cuối năm là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Đây không chỉ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn của con người đối với các đấng bề trên đã che chở cho gia đình suốt một năm qua.

Bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng ông Công ông Táo?

Mỗi dịp cuối năm, cùng với việc chuẩn bị mâm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời, nhiều gia đình Việt cũng tiến hành dọn dẹp, lau chùi bàn thờ để đón năm mới hanh thông, may mắn. Tuy nhiên, bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng Táo quân vẫn là băn khoăn của không ít người, bởi đây không chỉ là vấn đề phong tục mà còn liên quan đến ý nghĩa tâm linh và sự trang nghiêm của không gian thờ cúng.

Ngựa trong dân gian Việt Nam – biểu tượng lịch sử, văn hóa và khát vọng hanh thông

Trong hệ thống 12 con giáp của người Việt, con Ngựa (Ngọ) không chỉ là dấu mốc thời gian mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử giàu tầng nghĩa, gắn với hành trình dựng nước và giữ nước, với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và cả những quan niệm phong thủy, tử vi đã ăn sâu trong tâm thức dân gian. Nhân Tết Bính Ngọ, khi mùa xuân mở ra những hành trình mới, hình tượng con Ngựa lại trở về như một lời nhắc nhở về ý chí bền bỉ, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa của người Việt.

Nhà thờ họ và từ đường trong đời sống văn hóa – tâm linh người Việt

Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống bền vững và giàu ý nghĩa nhất. Đây không chỉ là hoạt động mang tính tâm linh mà còn thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn của con cháu đối với các thế hệ đi trước. Chính từ nền tảng ấy, nhà thờ họ và từ đường đã ra đời như những không gian thiêng, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.

Văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng trong đời sống cộng đồng.

Trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ là hệ thống niềm tin tâm linh, tín ngưỡng Tày – Nùng còn là môi trường tích hợp và sản sinh nhiều giá trị văn hóa, góp phần định hình bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.

Các nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục truyền thống quan trọng trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đây là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính và nhớ về cội nguồn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các nghi thức, nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên thường được thực hiện trong các dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ tổ, lễ cúng ông Công ông Táo, và nhiều dịp quan trọng khác. Dưới đây là một số nghi thức và nghi lễ phổ biến trong thờ cúng tổ tiên:
Top