banner 728x90

Đồng thầy - “thủ lĩnh tâm linh” dẫn dắt thực hành thờ Mẫu và giáo hóa “tín đồ”

17/10/2024 Lượt xem: 2487

Đồng thầy và các thành viên trong bản hội đều là những người trực tiếp thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Tuy nhiên, vai trò của họ lại không hoàn toàn giống nhau đối với thực hành này. Đồng thầy với tư cách là chủ bản hội, người dẫn dắt tâm linh cho các tín đồ nên đồng thầy có vai trò như một “thủ lĩnh”- “thủ lĩnh” tâm linh. Còn các thành viên bản hội đóng vai trò là cộng đồng thực hành tín ngưỡng.

Đồng thầy là người tạo nên và “sở hữu” bản hội. Do đó, vai trò đối với thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện trước hết trong bản hội của chính họ. Những tư liệu phỏng vấn và quan sát của tác giả trong nhiều năm cho thấy, đồng thầy có vai trò trong việc dẫn dắt và giáo hóa đệ tử, giữ gìn và trao truyền các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, “hoằng dương” tín ngưỡng thờ Mẫu và bảo tồn phát triển các không gian thực hành tín ngưỡng này.

Các “tín đồ” thờ Mẫu không có bất kỳ một cuốn sách hay văn bản nào hướng dẫn về việc thực hành nghi lễ. Tất cả họ hoàn toàn thực hành theo cách chỉ dạy của đồng thầy. Do đó, đồng thầy có vai trò quan trọng, thực sự là một “thủ lĩnh tâm linh”. Việc được coi là có khả năng đặc biệt, khả năng giao tiếp với thần linh để “kêu thấu tấu nổi”, để chữa bệnh trừ tà, hay để gọi hồn, tìm mộ, v.v… cộng với những trải nghiệm đời sống tâm linh đã đem đến cho đồng thầy một thứ quyền lực thiêng, quyền lực của người ra lệnh và các tín đồ trong bản hội là những “thần dân” nghe và thực hiện theo. Khi khảo sát một số bản hội ở Hà Nội và nhiều tỉnh thành ở miền Bắc, chúng tôi nhận thấy các tín đồ, nhất là các thanh đồng - những người mà cuộc đời thứ hai (cuộc đời tâm linh) của họ gắn liền với thần linh tín ngưỡng thờ Mẫu, nhất nhất thực hành theo những lời chỉ dạy của đồng thầy, thậm chí họ lo sợ rằng, nếu không thực hiện theo đúng lời chỉ dạy của đồng thầy sẽ dẫn đến những thiếu sót nào đó và họ sẽ bị thần linh trách mắng, quở phạt. Về phía đồng thầy, họ luôn luôn nhận thức trách nhiệm và bổn phận của mình là “người đi trước” phải “rước kẻ đi sau”. Chẳng hạn, sau khi trình đồng mở phủ cho một đệ tử, các đồng thầy sẽ hướng dẫn họ thực hành nghi lễ thờ Mẫu, làm lễ tạ 100 ngày, đi trình trầu ở các đền phủ để “Cha biết mặt, mẹ biết tên”. Đồng thầy cũng chỉ dạy cho họ phải biết kiêng cữ một số điều trước khi hầu thánh, như phải biết giữ thanh sạch cơ thể, không quan hệ vợ chồng, không ăn mắm tôm, thịt chó, v.v… Và điều quan trọng trong thực hành thờ Mẫu là chữ Tâm, chữ Thiện vì theo quan niệm của các tín đồ thờ Mẫu thì: “Tâm thành thay sớ biểu”, “cứu một người phúc đẳng hà sa”. Bên cạnh việc dẫn dắt thực hành, các đồng thầy còn giáo hóa tín đồ, dạy họ phải biết tu dưỡng đạo đức “trên kính Phật Thánh dưới kính đồng thầy”, đối với các thành viên trong bản hội thì phải coi nhau như anh em một nhà giúp đỡ và yêu thương nhau vì đều là con của Mẫu.

Vai trò dẫn dắt tâm linh này có thể được diễn ra theo hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Trực tiếp là thông qua các cuộc gặp mặt mang tính cá nhân, hoặc cũng có thể thông qua những buổi gặp mặt đông đủ. Thông thường mỗi bản hội một năm có 4 ngày lễ đông đủ là lễ đầu năm, lễ vào hạ, lễ tán hạ và lễ cuối năm. Nhân những dịp lễ này, đồng thầy truyền đi “thông điệp” của mình. Một bản hội lớn ở Hà Nội mà chúng tôi biết có truyền thống trong những ngày lễ trọng là trước khi “bắc ghế hầu Thánh”, đồng thầy luôn có một bài phát biểu, trước là xin với Vua Cha Mẫu Mẹ được hầu Người và sau là lồng ghép vào đó những lời tâm tình để khuyên răn các tín đồ, các thanh đồng về đường tu dưỡng, đã là con của Mẫu thì không được tham, sân, si, v.v… Dẫn dắt tâm linh bằng hình thức gián tiếp là sử dụng ưu thế phát triển của công nghệ kỹ thuật số hiện nay, đồng thầy giao tiếp với tín đồ qua Internet (facebook). Một đồng thầy ở Hà Nội mà chúng tôi biết thường đăng tải lên facebook những bài thơ do chính mình sáng tác để khuyên răn các đệ tử trong bản hội phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau và “kính Thánh trọng đồng”. Nhưng có thể nói không có cách nào giáo hóa và dẫn dắt đệ tử có thể tốt hơn qua chính tấm gương của đồng thầy. Bản thân đồng thầy là người có tâm, có tính thiện thì ắt hẳn các tín đồ sẽ noi theo và khi ấy lời nói của đồng thầy sẽ có trọng lượng. Đó là lý do vì sao các tín đồ thờ Mẫu không thể theo bất kỳ bản hội cũng như bất kỳ đồng thầy nào mà không có sự lựa chọn và cân nhắc. Nhiều tín đồ mà chúng tôi phỏng vấn cho rằng, họ muốn trao gửi đời sống tâm linh của mình cho một đồng thầy có tâm, không lèo lá, ích kỉ và không có tính vụ lợi.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top