banner 728x90

Văn hóa tâm linh - di sản văn hóa Việt Nam

20/04/2024 Lượt xem: 2605

Tôn giáo tín ngưỡng vừa là hợp phần quan trọng của một nền văn hóa vừa làm nên sắc thái của nền văn hóa ấy. Văn hóa tâm linh là một di sản đặc biệt của mỗi dân tộc, ẩn chứa nhiều truyền thống và giá trị đặc sắc cần nghiên cứu, bảo tồn và phát huy.

Theo lý thuyết văn hóa học hiện đại, một nền văn hóa có thể vi phân (một cách tương đối) thành bốn hợp phần bao gồm văn hóa sản xuất của cải vật chất là toàn bộ những sáng tạo trong lĩnh vực lao động sản xuất (chẳng hạn như văn hóa trồng lúa nước); văn hóa đảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở, đi lại, diễn xướng…); văn hóa quy phạm là những sáng tạo nhằm tạo ra kỷ cương, trật tự xã hội và cuối cùng là văn hóa tâm linh nhằm đáp ứng nhu cầu gửi gắm đức tin của cá nhân và cộng đồng. Nếu như văn hóa sản xuất của cải vật chất là nền tảng chi phối đặc trưng của một nền văn hóa, thì văn hóa tâm linh lại là thành tố giúp người ta nhận diện ra một nền văn hóa.

Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng vừa là hợp phần quan trọng của một nền văn hóa vừa làm nên sắc thái của nền văn hóa ấy. Văn hóa tâm linh là một di sản đặc biệt của mỗi dân tộc, ẩn chứa nhiều truyền thống và giá trị đặc sắc cần nghiên cứu, bảo tồn và phát huy.

Nhìn từ yếu tố nội sinh, với người Việt cổ, tín ngưỡng thờ thần núi, thần sông giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tản Viên sơn thánh được tôn lên hàng Tứ bất tử và là biểu tượng cho sức mạnh và những gì được coi là linh thiêng nhất.

Tục thờ cúng tổ tiên, nhớ ơn ông bà là dạng thức tín ngưỡng đặc biệt của người Việt Nam gồm những nghi thức thể hiện tấm lòng thành kính biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành gây dựng cuộc sống và phù hộ cho con cháu. Về phương diện đạo lý, tục thờ cúng tổ tiên góp phần xây dựng nên truyền thống uống nước nhớ nguồn, một giá trị văn hóa cao đẹp. Trải qua nhiều thế hệ, thờ cúng tổ tiên thành nghi lễ thiêng liêng thờ Quốc tổ Hùng Vương, một tín ngưỡng có sức mạnh gắn kết dân tộc thành một khối thống nhất.

Nghi thức hành lễ tại đền Mẫu Âu Cơ trong Giỗ Tổ Hùng Vương

Qua đó, người Việt Nam bày tỏ tấm lòng hiếu kính với Quốc tổ và các bậc tiền liệt; hội tụ tinh hoa các giá trị văn hóa, củng cố và nhân lên niềm tin vào sức mạnh và tiền đồ của dân tộc. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO) đánh giá là di sản văn hóa có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó, công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đặc điểm nổi trội của văn hóa tâm linh Việt Nam là tín ngưỡng sùng bái người có công chống giặc ngoại xâm. Thường xuyên phải đứng lên cầm vũ khí chống quân xâm lược, người Việt coi độc lập dân tộc và lợi ích quốc gia là lý tưởng thiêng, nên những người hy sinh vì nước, có công đánh giặc ngoại xâm đều hóa thần hiển thánh. Từ nhân vật huyền thoại Thánh Gióng, đến những nhân vật lịch sử: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… đều được tôn thánh, nhân dân lập đền miếu thờ phụng.

Trong đời sống tâm linh, người Việt dành sự kính ngưỡng đặc biệt cho Mẹ. Từ hình tượng Mẹ Âu Cơ đến tâm thức coi những con sông lớn đem lại nguồn sống cho cộng đồng là sông Cái (Mẹ), đã nói lên vai trò của phụ nữ, của người mẹ trong văn hóa Việt Nam. Với vị trí địa - văn hóa giao tiếp, Việt Nam còn thu nhận và biến đổi làm phong phú đời sống tâm linh bằng nhiều giá trị văn hóa đến từ bốn phương. Có nguồn gốc từ Nam Á, Phật giáo đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ 2, là một phần không thể thiếu trong văn hóa tâm linh và đồng hành cùng dân tộc gần 2.000 năm qua. Từ triết lý căn bản, Phật giáo còn là nguồn cảm hứng hình thành tín ngưỡng, nghi thức thờ cúng ở nhiều địa phương, hòa trộn với tín ngưỡng bản địa: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo…

 Lễ dâng hương Giỗ tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ)

Lâu đời không kém Phật giáo là Nho giáo và gắn liền với nó là Đạo giáo. Công giáo lần đầu xuất hiện ở Việt Nam từ đầu thế kỷ 16, đến thế kỷ 17 mới thực sự du nhập... Văn hóa tâm linh ở Việt Nam mang tính đa dạng của văn hóa tộc người và vì vậy, đời sống tâm linh của các cộng đồng cư dân phong phú. Đây là đặc trưng, nét đặc sắc của văn hóa tâm linh Việt Nam.

Văn hóa tâm linh Việt Nam hình thành từ 2 nguồn: nội sinh và ngoại sinh, hầu như không có sự xung khắc, đối lập. Các tôn giáo tín ngưỡng ngoại lai khi vào Việt Nam đều giao hòa gắn kết với văn hóa bản địa. Tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa tâm linh Việt Nam thường mang tính chất thực tế sâu sắc, không có đất cho khuynh hướng cuồng tín (gần chùa gọi Bụt là anh, để là đất cất nên Bụt…). Văn hóa tâm linh quan hệ mật thiết với chính quyền (đặc biệt là Phật giáo) trên nền tảng lợi ích quốc gia. Trong đó, thần quyền thường dưới vương quyền. Đây là điều khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Nét đặc sắc của văn hóa tâm linh Việt Nam là sự dung hợp giữa các tôn giáo và tín ngưỡng. Thời Lý - Trần, Đạo - Phật - Nho đã từng gắn với nhau theo một dạng thức tam giáo đồng quy. Khi xuất hiện tín ngưỡng thờ Mẫu, hầu như trong khuôn viên chùa đều có đền thờ Tam phủ, Tứ phủ và trong rất nhiều nghi thức của tín ngưỡng thờ Mẫu, có những nội dung của Phật giáo.

Để đáp ứng nhu cầu của đời sống tâm linh và góp phần căn chỉnh những hành vi lệch chuẩn, các di sản văn hóa tâm linh cần được xem là nguồn tài nguyên vô giá và vô tận. Nhiều công trình tôn giáo là kiến trúc độc đáo mời gọi du khách trong và ngoài nước đến chiêm bái, thưởng lãm. Nghi thức, lễ hội của nhiều tôn giáo tín ngưỡng hoàn toàn có thể trở thành những sản phẩm văn hóa độc đáo thu hút khách du lịch.

Ban Nghiên cứu Phật giáo phía Nam

Tags:

Bài viết khác

Nhà thờ gỗ Kon Tum có tuổi đời hơn 100 năm giữa núi rừng Tây Nguyên

Nhà thờ gỗ Chính tòa Kon Tum là một báu vật giữa núi rừng Tây Nguyên – do chính một vị linh mục người Pháp thiết kế và khởi xướng. Kiến trúc của nhà thờ được thiết kế hài hòa giữa kiểu kiến trúc Roman và nhà sàn gỗ của người Ba Na. Một sự kết hợp đặc sắc giữa văn hóa Tây phương và văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc của vùng Tây Nguyên. Công trình khởi công năm 1913 và hoàn thành vào năm 1918. Đến nay, sau hơn 100 năm, Nhà thờ vẫn nguyên vẹn như thủa ban đầu.

Thánh đường Hồi giáo Xuân Lộc (Đồng Nai)

Huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai là nơi tập trung nhiều cộng đồng người Chăm sinh sống, vì vậy, từ năm 2006, xã Xuân Hưng đã được xây dựng một ngôi thánh đường Hồi giáo nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của người dân. Ngôi thánh đường có tên là Masjid Nourul Ehsaan được xem là thánh đường Hồi giáo lớn thứ 2 tại Việt Nam, sau thánh đường Hồi giáo tại An Giang.

Lễ trưởng thành của thiếu nữ làng Chăm Lương Tri

Lễ trưởng thành là nghi thức quan trọng đánh dấu bước phát triển trong đời người của thiếu nữ Chăm Hồi giáo Bàni. Đây là thời điểm các cháu chính thức được cộng đồng công nhận tín đồ Hồi giáo Bàni. Lễ trưởng thành đối với thiếu nữ gọi là Karơh, do Cả sư và các chức sắc thuộc thánh đường Hồi giáo Bà ni thôn Lương Tri đảm nhiệm thực hành nghi lễ.

Chùa Thầy – sự hòa điệu giữa kiến trúc Phật giáo với các tôn giáo và tín ngưỡng bản địa

Kiến trúc cảnh quan là nghệ thuật kiến trúc điều hòa được mối quan hệ giữa tự nhiên – con người – kiến trúc để tạo nên một môi trường sống hài hòa, có giá trị thẩm mỹ và tinh thần. Chùa Thầy là một công trình tiêu biểu cho vẻ đẹp của kiến trúc cảnh quan thiên nhiên ở đồng bằng Bắc Bộ.

Khám phá Kiến trúc độc đáo của nhà thờ Yali ở Gia Lai

Nhà thờ Yali tọa lạc tại xã Ia Ka, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Công trình nằm cạnh tuyến đường tỉnh 673, cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng 30km về phía Bắc.

Phép ứng xử trong ăn uống - Nét đẹp của người Chăm

Người ta nói rằng, phải ngồi bên mâm cơm của người Chăm thì mới thấy hết được những nét đẹp văn hóa trong ứng xử của họ. Nếu người Kinh "ăn trông nồi, ngồi trông hướng" thì với người Chăm, ăn uống hàng ngày hay ngày đình đám đều phải tuân theo các phép ứng xử có từ lâu đời.

Chùa Hang – Nơi Phật giáo đầu tiên du nhập vào Việt Nam

Chùa Hang nằm ở khu 1 thuộc phường Vạn Sơn, Đồ Sơn, Hải Phòng. Theo các tài liệu nghiên cứu thì chùa được một nhà sư tên Bần, người xứ Thiên Trúc (có tài liệu ghi là người Ấn Độ) đã đến cư trú tại hang và mở chùa này vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là nơi đầu tiên đạo Phật du nhập vào nước ta.

Nguồn gốc và ý nghĩa lá cờ Phật giáo

Từ quốc gia cho đến các tổ chức trong xã hội, đều phải có một biểu tượng, cờ chính là một trong những biểu tượng. Phật Giáo không nằm ngoài quy ước đó. Cờ Phật giáo là một lá cờ được thiết kế vào cuối thế kỉ XIX nhằm tượng trưng và đại diện một cách thống nhất cho Phật giáo và được tất cả Phật tử trên khắp thế giới sử dụng.
Top