banner 728x90

Truyện ngắn: Còn mãi với thời gian

29/04/2025 Lượt xem: 2828

Hồi nhỏ, ở quê, tôi thấy nhà ông Trãi nghèo nhất xóm. Ngày hai buổi đi làm, với tính tình hiền lành, chăm chỉ, ông lại có tay nghề “đa năng” nên ai nhờ gì làm nấy, cả ngày vất vả có khi cũng chỉ được trả công bằng 5 lon gạo hoặc ít ký khoai lang, củ mì. Vợ anh, chị Hải mắt kèm nhèm, lại thêm bị bệnh khớp gối nên chỉ quanh quẩn trong nhà, ngoài bếp.

Trong xóm, ai cũng nói nhà ấy sống phúc hậu, ăn ở biết xóm giềng, nuôi dạy con cái ngoan ngoãn nhưng nghèo khổ quá, thỉnh thoảng đem rá đi vay gạo, tuy thương nhưng nhiều khi bà con chẳng có gì giúp nhiều, bởi thời ấy ai cũng nghèo cả. Có Tết, vào lúc giao thừa, cả làng nổ ran tiếng pháo, nhìn lên đồi, ngôi nhà tranh khuất trong vườn mít của anh im lìm không đèn đóm, nghĩa là năm đó cả nhà không có Tết.

Cùng tuổi với tôi, con Bê nhà ấy có nước da bánh mật, hai má có hai hạt gạo duyên dáng, tóc lúc nào cũng cột túm sau gáy như nhánh cỏ. Mỗi lần ra chợ bán bánh, đi trên đường, thỉnh thoảng nó cũng lắc lắc cái đầu cho bím tóc tung tẩy. Ở chợ Xổm, Bê bán một thứ bánh “độc quyền” không ai làm đó là bánh gạo lá mít. Bánh này làm bằng bột gạo đỏ, ngày nay người ta thường gọi là gạo lức. Loại gạo đỏ này được trồng trong mấy thửa ruộng gần con kênh nước lợ, năng suất rất thấp nhưng chịu được sâu bệnh, gạo thì rất khó nấu thành cơm, hễ cơm để nguội là khô cứng. Thế nhưng cái bánh gạo đỏ của nhà nó làm ra nhiều người lại hay mua, phần thì thương nó tảo tần giúp cha mẹ nuôi em, phần có vị ngon riêng khó tả. Có lần hỏi, Bê cười nói làm bánh này dễ thôi, lấy gạo đỏ xay nhuyễn với nước đun sôi để nguội, ủ kín một ngày một đêm; lấy đậu đỏ hầm chín, đem ra cối đá quết thật nhuyễn, sau đó phi với hành mỡ để làm nhân. Canh bốn, Bê dậy sớm đem bột ra nặn, cho nhân vào trong và vo tròn thành từng cái như kiểu làm bánh ít, to cỡ miệng ly uống trà, sau nó đặt từng cái lên từng chiếc lá mít rồi xếp vào nồi hông như hấp cách thủy.

Nhìn cái bánh tròn trịa, màu đỏ gạo lức, khô cứng nằm trên lá mít xanh ăn không mềm, không dẻo, nhưng lạ thay bánh này để càng nguội ăn càng ngon. Ăn chậm, nhai kỹ từng miếng nhỏ mới cảm nhận hết được vị bùi bùi, beo béo, thơm thơm của bột gạo lức, đậu đỏ, hành tăm, mỡ heo, thoảng một chút vị chát nhẹ của lá mít tươi, thật riêng biệt.

Hồi đó, Tết nào bà tôi cũng đặt hàng con Bê làm mấy chục cặp bánh gạo đỏ chưng lên bàn thờ cúng ông nội tôi. Bà nói, xưa ông rất thích ăn món này.

Xa quê, sống nơi đất khách, mỗi khi gặp nhau ai cũng vồn vã chào hỏi và không quên hỏi thăm thứ bánh gạo đỏ lá mít ở chợ có còn bán không, nhà con Bê hết khổ chưa. Thì ra ẩn náu sâu xa trong cái ngon của bánh nằm ở sự bình dị chân chất như tâm hồn quê kiểng, coi trọng sự hiền lành, hiếu nghĩa của con người chứ không phải miếng ăn.

Hương Lan

 

 

 

 

 

 

 

 

Tags:

Bài viết khác

Truyện ngắn: Chợ nổi miền Tây

Trong nắng lóa đầu ngày, một cậu học trò níu tay tôi: “Cô ơi, cô có khách”. Tôi chưa kịp nói gì thì Ngọc hiện ra trước mặt tôi. Tôi đã từng yêu Ngọc và từng đau vùi cả tháng trời vì Ngọc. Chắc tôi sẽ mừng vì ba năm trời xa lạ anh vẫn còn nhớ, tìm tới nơi tôi trốn tránh, ngỏ lời xin lỗi và dự định đưa tôi về thành phố. Nhưng tôi đã tiễn Ngọc ra bến tàu như tiễn một người khách ghé thăm bình thường: “Em sẽ lấy chồng. Anh thấy đó, anh ấy và em vừa đi chợ nổi về”.

Tản văn: Xuân đến với mọi nhà

Một đời người vui buồn có bao nhiêu ngày Tết mà đề huề con cháu trong không khí ấm áp của tiết trời, của xuân đến bên thềm qua bao thế hệ. Đẹp và cao quý, giản đơn hay cao sang vẫn rộn rã tiếng cười chao trong nắng se vàng. Một tờ lịch cuối cùng đi qua sẽ có một tờ lịch mới mẻ tinh khôi lại đến cho ngày mới, cho năm mới, cho người thân và mong một năm mới nhiều mưa thuận gió hòa trải trên đất Việt khi xuân đến với mọi nhà.

Tản văn: Tết về quê

Tết quê mới đúng nghĩa từ ngàn xưa để lại. Nhưng kỳ thực với người xa quê, ngày Tết được sống trong không khí đoàn viên, đầm ấm gia đình mới là Tết. Tết đó vẫn mãi đi theo dặm dài cuộc đời, xa xứ bao năm vẫn nhớ thương về. Tết nhớ bóng cha già tất tưởi lo toan cho mâm cúng tất niên chiều cuối năm, bóng mẹ hao gầy mừng đứng đợi con đầu ngõ, xoa mái tóc nửa đời sương gió vẫn còn “trẻ thơ”... Tết về quê, nơi đó có sự dịu ngọt tình cảm chan chứa mãi không vơi!

Tản văn: Chợ bến sông quê

Chợ quê có thể nhóm họp trên mặt đê, ở bãi đất trống, ven đường, hay giữa đình làng... Chợ quê chỉ có dăm cái lều thấp lợp rạ mỏng, vài dãy quán ngói... mà hầu hết người mua, người bán đều đứng hoặc ngồi giữa trời, nó chỉ sôi động, ồn ã một chốc lúc buổi sáng hay chiều hôm, rồi lại tan chợ.

Tản văn: Mùa xuân quê tôi

Sau một mùa đông, từng tia nắng ấm áp của mùa xuân đã theo tháng giêng về cùng. Ngọn gió giao mùa cứ xôn xao như từng khúc hát gọi xuân về. Ánh nắng của mùa này cũng vàng hơn. Những tia nắng ấm áp báo hiệu một mùa xuân lại đang về. Bầu trời xanh cũng cao hơn cho những đàn chim én bay về.

Tết trong ký ức của con

Tết này, chúng con – những đứa con đã đủ lớn khôn để có thể tự lo cho mình - lại về bên mẹ. Mẹ ơi, đây là nhang để thắp dâng lên ông bà, đây là áo mới tặng mẹ, tặng ba nè. Còn đây nữa, đây là thuốc bổ, là sữa cho mẹ, vì bây giờ trông mẹ yếu lắm. Tết này mẹ đừng lo lắng gì nữa nhé, chúng con đã khôn lớn cả rồi.

Tản mạn: Nét đẹp văn hóa Tết Việt Nam

Tết Việt - hai tiếng thiêng liêng và ấm áp trong trái tim hàng chục triệu người con, dù ở trong lòng Tổ quốc hay còn sống khắp nơi trên hành tinh trái đất. Đó là tài sản tinh thần của nhiều thế hệ đang được gìn giữ và trao truyền lại cho con cháu mai sau.

Tản văn: Mong ước mùa xuân

Mùa xuân đã về, ai cũng cầu mưa thuận gió hòa, ai cũng mong cây xanh lộc biếc! Mùa xuân gắn với quê hương, xứ sở…nhất là trong những ngày Tết Việt đầu năm!
Top