banner 728x90

Tranh thờ của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc

11/06/2024 Lượt xem: 3767

Mỗi dân tộc lại có một dòng tranh thờ mang đặc thù khác nhau từ nét vẽ, màu sắc cho đến số lượng tranh trong mỗi bộ.

Tranh thờ của các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi phía Bắc hầu hết là tranh tôn giáo, gắn với tín ngưỡng đạo Phật hay đạo Lão, song tranh thờ vẫn mang rõ dấu ấn nghệ thuật của mỗi dân tộc, hình thành từ cội nguồn văn hóa và phong tục tập quán riêng. Mỗi dân tộc lại có một dòng tranh thờ mang đặc thù khác nhau từ nét vẽ, màu sắc cho đến số lượng tranh trong mỗi bộ.

Ở khu vực miền núi phía Bắc có những dân tộc như Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Dìu đều có tập tục sử dụng tranh thờ trong các việc cúng lễ, ma chay. Đặc biệt, Tày và Dao là hai dân tộc đang sở hữu một số lượng lớn các loại tranh thờ. Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho biết: Đó là những dân tộc có tục lệ có tranh thờ miền núi để trông coi linh hồn người chết và khuyên giải con người nên sống như nào để khi chết sớm được siêu thoát. Trong bộ tranh thời chia thành hai loại là bên tạo và bên thầy. Bên thầy là phần hướng dạy dỗ, giảng dạy cách sống, hướng con người tới cuộc sống cao đẹp hơn. Còn bên tạo là dòng tranh thờ răn đe con người nếu sống trên trần thế mà độc ác thì khi chết sẽ chịu nhiều hình phạt khắc nghiệt.

Công tào Thiên phủ, Địa phủ, tranh thờ dân tộc Dao (Sưu tập Phạm Đức Sĩ)

Tranh thờ miền núi có mặt trong các lễ tang, biểu thị ước nguyện dân gian của gia đình người chết cầu cho vong hồn thân nhân thoát cảnh địa ngục, vươn tới cõi Niết bàn hay cõi Bất tử. Tranh thờ còn lại hiện nay lưu giữ tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, phần nhiều là do thợ của tranh Hàng Trống vẽ. Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho biết đây là một trong ba nguồn chính thực hiện ra dòng tranh thờ miền núi hiện nay: Tranh thờ miền núi xuất phát từ tranh thờ Hàng Trống. Trước kia cả khu vực làm và cung cấp lên miền núi và đa phần người Tày sử dụng tranh Hàng Trống dưới xuôi với khối lượng khá lớn. Dòng hai là người dân tộc tự vẽ. Họ sử dụng lại những bộ tranh thờ dưới xuôi, dùng chất liệu màu của địa phương như son, lá nhọ nồi, lá cây gia nát làm màu để vẽ. Cách vẽ đó khá phong phú, đa dạng. Dòng tranh này khá hồn nhiên, được sử dụng rộng rãi.

Tổng đàn, tranh thờ dân tộc Dao

Nét vẽ của người thợ vẽ tranh Hàng trống tạo ra được sự uy linh của tranh thờ. Nghệ nhân Lê Đình Nghiên, người duy nhất còn lại của dòng tranh hàng Trống, Hà Nội, cho biết: Chỉ bằng ngọn bút lông, vẽ một nét sổ ngang, tỳ bút hai đầu tòe ra một nét rất là đơn giản, mềm mại như vậy thì tả được nụ cười của hình ảnh đức Phật. Nghệ thuật vờn cản là dùng nửa nước, nửa màu để đặc tả nét mặt hồn hậu của Phật. Điều này chỉ Việt Nam có, không lẫn với một dòng tranh nào khác kể cả tranh của Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản.

Tranh thờ do người dân tộc tự vẽ lấy thì những nét vẽ tự nhiên thể hiện nội tâm cũng như quan niệm của họ, nhìn qua có vẻ vụng về nhưng xem kỹ thì rất có hồn mà không một hoạ sĩ nào làm được. Tuy nhiên người vẽ tranh thờ khi bước vào quá trình sáng tác đều phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho biết: Người được vẽ tranh thờ phải là người vẽ tốt. Trước khi bước vào quá trình vẽ tranh thờ thì người đó phải sống cách ly vợ con một thời gian và ở một phòng riêng. Họ cho rằng muốn vẽ được thì phải giữ sự trong sáng, không vướng bận đời sống khác vào. Nó giống như một nghi thức nên những bức tranh thờ đó được vẽ hết sức nghiêm cẩn.

Tranh làng Sình được sử dụng phổ biến ở Huế với mục đích cúng lễ ( (Ảnh: BTC)

Khác với dòng tranh Đông Hồ, Hàng Trống hay Kim Hoàng, trong sinh hoạt thường ngày, người dân tộc ở miền núi phía Bắc không dùng tranh thờ để trang trí nơi ăn ở của mình: Tranh thờ hoàn toàn không mang tính trưng bày trong không gian nhà, mục tiêu sử dụng là cho việc thờ cúng chứ không phải dùng để trang trí. Tranh chỉ được sử dụng khi làng bản, nhà có việc như cúng, lễ, đám ma. Không phải là tranh treo trên tường nhưng lại được ứng dụng rộng rãi, bản chất có đời sống thực được đẩy vào trong tranh nhiều hơn. Những bức tranh thờ còn lưu giữ cả những tàn hương cháy, có vết dầu mỡ, đời sống của người dân tộc quện vào bức tranh. Những tranh treo tường thì rách không sử dụng nữa nhưng tranh thờ thì khác, rách thì được bồi lại, dán lại. Đây là nét đặc trưng và khá riêng biệt của tranh thờ miền núi.

Tranh thờ miền núi phục vụ cho đời sống tâm linh của người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phái Bắc nên màu sắc thường đậm, trầm, đặc trưng có những màu như đỏ, xanh lam, trắng, vàng. Tranh thờ miền núi được người dân lưu giữ khá cẩn thận. Ngày nay dù cuộc sống phát triển, nhưng dòng tranh thờ của người dân tộc thiểu số ở miền núi phái Bắc vẫn còn nguyên giá trị văn hoá.

Nguồn vov.vn

 

Tags:

Bài viết khác

Ngựa trong đời sống dân gian

Ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống con người, vừa là phương tiện di chuyển, vừa là biểu tượng văn hóa dân gian. Trong lịch sử, ngựa đóng vai trò quan trọng trong giao thương, hành chính, quân sự và tín ngưỡng.

Lễ cúng tạ đất cuối năm: Nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh của người Việt

Lễ cúng tạ đất cuối năm là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Đây không chỉ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn của con người đối với các đấng bề trên đã che chở cho gia đình suốt một năm qua.

Bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng ông Công ông Táo?

Mỗi dịp cuối năm, cùng với việc chuẩn bị mâm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời, nhiều gia đình Việt cũng tiến hành dọn dẹp, lau chùi bàn thờ để đón năm mới hanh thông, may mắn. Tuy nhiên, bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng Táo quân vẫn là băn khoăn của không ít người, bởi đây không chỉ là vấn đề phong tục mà còn liên quan đến ý nghĩa tâm linh và sự trang nghiêm của không gian thờ cúng.

Ngựa trong dân gian Việt Nam – biểu tượng lịch sử, văn hóa và khát vọng hanh thông

Trong hệ thống 12 con giáp của người Việt, con Ngựa (Ngọ) không chỉ là dấu mốc thời gian mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử giàu tầng nghĩa, gắn với hành trình dựng nước và giữ nước, với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và cả những quan niệm phong thủy, tử vi đã ăn sâu trong tâm thức dân gian. Nhân Tết Bính Ngọ, khi mùa xuân mở ra những hành trình mới, hình tượng con Ngựa lại trở về như một lời nhắc nhở về ý chí bền bỉ, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa của người Việt.

Nhà thờ họ và từ đường trong đời sống văn hóa – tâm linh người Việt

Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống bền vững và giàu ý nghĩa nhất. Đây không chỉ là hoạt động mang tính tâm linh mà còn thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn của con cháu đối với các thế hệ đi trước. Chính từ nền tảng ấy, nhà thờ họ và từ đường đã ra đời như những không gian thiêng, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.

Văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng trong đời sống cộng đồng.

Trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ là hệ thống niềm tin tâm linh, tín ngưỡng Tày – Nùng còn là môi trường tích hợp và sản sinh nhiều giá trị văn hóa, góp phần định hình bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.

Các nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục truyền thống quan trọng trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đây là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính và nhớ về cội nguồn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các nghi thức, nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên thường được thực hiện trong các dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ tổ, lễ cúng ông Công ông Táo, và nhiều dịp quan trọng khác. Dưới đây là một số nghi thức và nghi lễ phổ biến trong thờ cúng tổ tiên:
Top