banner 728x90

Các mặt trái ngược trong nho giáo

09/06/2024 Lượt xem: 2627

Ý thức về tổ tiên, về mối liên hệ giữa tổ tiên và con cháu được dựng thành lý thuyết và “lễ thức hóa”: ở thời điểm muộn hơn. Chính hệ tư tưởng Nho giáo đã “có công thổi vào quan điểm bản địa mộc mạc này một triết lý, một tổ chức, một nghi thức, một niềm tin sâu sắc”. 

Trong quá trình Hán hóa, “nền văn minh trồng lúa nước ở châu thổ sông Hồng đã hòa với nền văn minh chung của Á Đông mà Trung Quốc là Trung tâm” trên mọi mặt, trong đó bao gồm cả phong tục, tín ngưỡng. Các nguồn sử liệu Trung Quốc có ghi về dòng người Hán di cư xuống phía nam suốt từ thời Tây Hán đến thời Đường, và sau này trở thành một bộ phận cư dân Việt Nam. Đó là chưa kể các chính sách, biện pháp nhằm đồng hóa dân Giao Châu của các chính quyền phong kiến phương Bắc. Từ đó, có ý kiến cho rằng, các nghi thức thờ cúng tổ tiên được tiến hành đầu tiên trong người Hán rồi dần dần sang người Việt. Văn hóa Hán với cơ sở lý luận là hệ tư tưởng Nho giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được tồn tại và duy trì. Đó là những học thuyết có tính lý luận về gia đình – tế bào của xã hội, và “tề gia”được coi là một nấc thang của quá trình “tu thân”. Hơn nữa, lý thuyết Nho giáo đặc biệt đề cao chữ hiếu đến mức trở thành đạo hiếu. Hiếu là biểu hiện của nhân, hiếu gắn với trung, là nguồn gốc của trung. Khổng Tử nói: “Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là vâng mệnh người trên, đem những điều đó mà thi thố ra thiên hạ, thì không có điều gì là không làm được”.

Trong tư tưởng Nho giáo cũng có hai mặt trái ngược: một mặt, Khổng Tử cho rằng “Kính quỷ thần nhi viễn chi” (kính cẩn nhưng tránh xa quỷ thần), mặt khác lại nói: “Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ” (chưa biết thờ người sao biết thờ quỷ thần?). Như vậy, Nho giáo thừa nhận có sự tồn tại của linh hồn, có thiên mệnh, có quỷ thần, và đặc biệt là linh hồn tổ tiên. Khổng Tử đã phê phán: “phi kỳ quỷ nhi tế chỉ siển dã” (không phải quỷ thần của mình mà cúng tế là Xiểm nịnh) và chủ trương chỉ thờ linh hồn thuộc về mình (kỳ quỷ), cụ thể: vua thì thờ trời, đất; dân thường thì thờ tổ tiên./.

Ban Nghiên cứu Tôn giáo

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top