banner 728x90

Tục thờ Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen - Tây Ninh

02/07/2024 Lượt xem: 3137

Núi Bà Đen không chỉ được biết đến là ngọn núi cao nhất Đông Nam Bộ mà còn là nơi có nhiều truyền thuyết tín ngưỡng dân gian, là điểm hành hương tâm linh nổi tiếng thu hút đông đảo du khách thập phương khắp bốn mùa.

Toàn cảnh núi Bà Đen 

Vị thần được thờ chính trên Núi Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu, tức Bà Đen. Bà được thờ cúng tại một Điện thờ nằm trong thạch động lưng chừng núi, cạnh chùa Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Lễ Vía Bà vào tháng 5 âm lịch được xem là lễ hội dân gian quan trọng nhất ở núi hằng năm. Mặc dù sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian là điều thường thấy ở các đền, chùa qua các mô hình thờ cúng, thế nhưng một mô hình lễ hội có sự kết hợp giữa dân gian và tôn giáo như Lễ Vía Bà Đen là một sự hiếm có. Bà Linh Sơn Thánh Mẫu – một trong những biểu tượng thờ mẫu điển hình ở Nam bộ đã được “Phật hóa” tại núi Bà Đen – Tây Ninh, vì thế Lễ Vía Bà nơi đây có sắc thái riêng, ít gặp ở nơi nào khác. Bởi lẽ, Bà vừa là Bồ tát, nhưng cũng là một Nữ thần, một Thánh Mẫu trong tâm thức dân gian.

Có rất nhiều truyền thuyết về sự tích núi Bà Đen, về Bà Linh Sơn Thánh Mẫu. Hầu hết các truyền thuyết được kể lại đều dựa trên cơ sở văn hóa – xã hội, lịch sử, địa lý của Tây Ninh. Truyền thuyết mà mọi người hay nhắc đến nhất kể rằng, ở vùng quê xưa thuộc huyện Trảng Bàng ngày nay có người con gái tài sắc mang tên Lý Thị Thiên Hương, tuy nước da ngăm đen nhưng rất có duyên. Thuở ấy, núi Bà Đen còn mang tên là núi Một, trên núi có pho tượng phật bằng đá, người dân thường đến đó cúng bái. Xinh đẹp nên Lý Thị Thiên Hương bị con nhà quan lại ép uổng nhân duyên; không ưng thuận nên bị chúng lập mưu chặn đường cưỡng bức trong một lần viếng núi.

Được chàng trai nghèo giỏi võ trong vùng tên là Lê Sĩ Triệt ra tay cứu thoát, cảm ơn ân nghĩa nên nàng xin gia đình hai bên cho hẹn ước nhân duyên, nhưng gặp thời loạn lạc chàng trai phải tòng quân. Ở nhà, nàng Thiên Hương chung thủy đợi chờ và thường lên núi cầu trời khấn Phật cho người đi chinh chiến. Một lần, bị bọn tay sai quan lại vây bắt, nàng gieo mình xuống vực sâu tử tiết, không chịu ô uế tấm thân.

Lễ vía bà Linh Sơn Thánh Mẫu

Vài ngày sau, nàng báo mộng cho nhà sư trụ trì chùa trên núi đến tìm, mang xác về chôn cất. Từ đấy, chuyện về nàng gắn liền với những điều linh thiêng thường xuyên xuất hiện, qua truyền tụng của nhân dân đã đến tai quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Chuyện được tâu về triều đình và vua Gia Long sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu; còn người dân căn cứ vào nước da của bà nên gọi là Bà Đen.

Dù là huyền thoại bí ẩn nhưng truyền thuyết về Bà Đen thể hiện hình tượng người phụ nữ Nam bộ thủy chung và trung trinh tiết liệt; cũng góp phần làm sáng tỏ đặc điểm địa lý, lịch sử vùng đất Tây Ninh trong những ngày đầu khai phá. Trong truyền tụng dân gian, người ta kể rằng chính Vua Gia Long đã sắc phong cho bà là Linh Sơn Thánh Mẫu, nơi động thờ bà là Linh Sơn Tiên Thạch Động; và cũng chính vua đã cho đúc cốt bà thành tượng đồng đen để phụng thờ.

Như vậy, cho đến tận năm 1849, núi mới được đặt tên là Linh Sơn và chính thức được triều đình ghi vào danh sách những vị trí linh thiêng, cần được thờ tự của non sông, đất nước. Tờ sắc phong của Vua Gia Long đã không còn, đến đời Bảo Đại, bà lại được sắc phong “Linh Sơn Thánh Mẫu tôn thần”, do chiến tranh nên tờ sắc phong thứ hai cũng không còn, nhưng bia đá ghi lại sự kiện này thì vẫn còn hiện diện trên sân điện (cạnh miễu Ông Tà). Từ sự công nhận của triều đình nhà Nguyễn về một vị thần núi ở Nam bộ, khi gặp tín ngưỡng thờ mẫu trong tâm thức dân gian đã hội tụ thành một Thánh Mẫu được phụng thờ: Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, tức Bà Đen.

Lễ Vía Bà được tổ chức trong ba ngày, bắt đầu từ sáng Mùng 4 và kết thúc vào trưa ngày Mùng 6 tháng 5 Âm lịch. Lễ chính được thực hiện trên các điện, chùa trong quần thể kiến trúc trên sân núi Điện Bà. Ngoài lễ cúng chính trên Điện Bà và Linh Sơn Tiên Thạch Tự, các vị sư ở núi còn tổ chức Lễ Vía tại chùa Linh Sơn Phước Trung Tự (Chùa Trung) ở chân núi, nhưng tiết chế các nghi thức hơn. Lễ Vía chỉ diễn ra trong vòng một ngày rưỡi và lệch trước một ngày; bắt đầu từ Mùng 3 và đến trưa Mùng 4 tháng 5 âm lịch là mãn lễ. Việc có thêm một Lễ Vía nữa ở Chùa Trung là để phục vụ cho một bộ phận khách hành hương là người cao tuổi không đủ sức khỏe lên tận Chùa Bà để chiêm bái Lễ Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu Núi Bà Đen – Tây Ninh./.

Ban Nghiên cứu Tôn giáo

 

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top