banner 728x90

Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt Nam

14/05/2024 Lượt xem: 3447

Ở các làng xã nông thôn Việt Nam, Thành Hoàng là một niềm tin thiêng liêng, một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng từ bao đời nay. Thờ cúng Thành Hoàng cũng giống như thờ cúng Tổ Tiên, nó mang đậm dấu ấn tâm linh và thể hiện quan niệm” uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam.

​​​Bàn thờ Thành Hoàng làng Hòa Tịnh, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

Ở Việt Nam, Thành Hoàng là vị thần được tôn thờ chính trong các đình, miếu làng, là vị thần linh cai quản toàn bộ thôn, xã là thần hộ mệnh, phù hộ, độ trì và che chở , ban phúc cho dân làng. Danh hiệu Thành Hoàng xuất hiện vào đầu thế kỷ IX, khi Cao Biền lập đền thờ Tô Lịch, một nhân thân và suy tôn là Đô Phủ Thành Hoàng thần quân, tức là Thành Hoàng của thành Đại La ( Hà Nội ngày nay).

Tuy tín ngưỡng thờ Thành Hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng vì quy mô và cơ cấu làng cổ Trung Quốc có nhiều điểm khác với làng cổ Việt Nam, nên tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Việt cổ có khác. Ở Việt cổ thờ Thành Hoàng không phải lúc nào cũng thờ thần bảo vệ Thành Hoàng, mà thờ chủ yếu những người có công với dân với nước, người có công lập ra làng, xã, huyện, phủ, hoặc người có công truyền dạy nghề cho dân làng, hoặc người tốt của dân. Việc thờ Thành Hoàng có khi là một sức mạnh thiên nhiên như: núi, sông, lửa, nước, mây, mưa, sấm chớp. Những thứ mà có trong đời sống nhân dân và tùy vào đặc điểm cư trú của từng vùng miền khác nhau. Có nơi thờ thủy thần, có nơi thờ thần núi. Đa số làng thờ những nhân vật lịch sử làm Thành Hoàng làng mình, những vị có công đánh giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho dân, cho nước như: Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo…

​​​​​Bàn thờ chữ thần ở đình Thành Hoàng, Hà Tiên, Kiên Giang

Nói chung, hầu hết các làng đều thờ hai loại Thành Hoàng trong đó có vị là sức mạnh tự nhiên, có vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công với làng. Đặc biệt Thành Hoàng ở Việt Nam không thay đổi khi nhà nước thay quan đổi chủ, chế độ, tôn giáo địa danh, giàu hay nghèo nhưng Thành Hoàng vẫn tồn tại suốt từ đời này qua đời khác. Tín ngưỡng Thành Hoàng đóng vai trò liên kết cộng đồng người trong một cộng đồng người trên cùng một lãnh thổ nông nghiệp hữu hạn, làm nơi quy tụ tâm linh cho cư dân.

Thành Hoàng chứng kiến đời sống của dân làng, ban phúc độ trì cho những người trung hiếu, hiền lành, giáng họa trừng phạt những kẻ độc ác vô luôn. Có tai biến, người ta thường đến lễ bái cầu xin thần chứng giám chuyển dữ hóa lành, giải oan cho người đó. Mọi người trong cộng đồng luôn tuân thủ theo luật lệ, đạo đức vì họ luôn tâm niệm rằng thần luôn giám sát những hoạt động của từng thành viên trong cộng đồng. Thần còn là lực lượng tiếp sức cho nhân dân trong cuộc chiến chống ngoại xâm, dập tắt thiên tai, bệnh dịch bằng con đường Âm phủ. Thần được dân làng hàng năm cúng tế và được triều đình phong kiến sắc phong thêm các mỹ tự sau mỗi lần cầu đảo linh nghiệm.

Nhà nước phong kiến Việt Nam chọn lọc và phong sắc cho Thành Hoàng làng nhằm mục đích đoàn kết và động viên toàn bộ sức mạnh của cộng đồng làng, xã và dân tộc thành một khối, đồng thời thực hiện việc quản lý xã hội đến cơ sở xã hội. Và ngôi đình, ngôi miếu xuất hiện lúc ban đầu với chức năng làm trụ sở hành chính, công sở của nhà nước phong kiến ở làng, xã dần dần trở thành nơi thờ cúng Thành Hoàng và nơi hội họp của dân làng.

Cùng với việc phong kiến hóa đình miếu làng và thần làng, triều đình phong kiến đã tiến hành quản lý thống nhất đất nước. Các thần làng trở thành Thành Hoàng làng. Các thần làng có công âm phù giúp vua dẹp giặc, giúp dân trừ thiên tai, dịch bệnh, hay những công thần của triều đình đều được săc phong làm Thành Hoàng. Nếu như sự thờ cúng gia tiên là nền tảng gắn kết mọi thành viên cộng đồng gia đình, dòng họ, thì việc thờ cúng Thành Hoàng là nơi gắn bó đoàn kết làng xã, trên cơ sở nguyện vọng, mong ước của các thành viên trong làng hội tụ ở thần..

Thành Hoàng làng là một trong những nhân tố văn hóa mà người nông dân Việt Nam đã sáng tạo ra trải qua bao thế hệ. Gắn với Thành Hoàng là hội làng - một nét đẹp văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của vùng miền, của từng địa phương. Những năm gần đây, các làng xã theo nhau khôi phục sinh hoạt văn hóa, lễ hội. Nhất là những ngày đầu xuân, dịp lễ, Tết và đã được cải biên cho phù hợp với thời hiện đại. Nhân dân nhiều nơi vẫn còn tín ngưỡng, tham gia rất đông, là nét tâm linh đem lại nhiều điều phấn khởi, sinh hoạt văn hóa cho dân làng. Đó cũng là đạo nghĩa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta, cũng là tri ân các giá trị đạo đức nhân, lễ, nghĩa… nhằm giúp con người nhất là các thế hệ trẻ không bị hòa tan trong cuộc sống vật chất thời hiện đại, góp phần xây dựng nếp sống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Thành Hoàng đã trở thành một biểu tượng tâm linh, một chổ dựa tinh thần vững chắc của người dân. Bởi với họ, chỉ có thần mới có thể giúp mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, giúp cho cuộc sống của họ ngày một ổn định, thịnh vượng, nên làng xã nào không có Thành Hoàng là làng xã đó bất an. Tuy ngày nay khoa học đã phát triển, nhưng con người vẫn phải gặp những điều trái ngang, trắc trở trong cuộc sống thường ngày như bệnh tật ốm đau mà y học phải bó tay. Hoặc mưa gió, bão tố, lụt lội… hàng năm cướp đi hàng chục sinh mệnh. Khi đó con người lại nương nhờ vào thần linh, cầu xin sự che chở của thần thánh.

Theo sách Việt Nam phong tục, mỗi làng thường thờ môt vị Thành Hoàng làng, cũng có làng thờ hai, ba, thậm chí năm bảy vị Thành Hoàng, tuy nhiên, trong đó có một vị làm chủ thần. Mỗi vị Thành Hoàng đều có một thần tích và thần phả riêng gắn liền với những đặc điểm, điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của làng đó. Tuy nhiên, có trường hợp nhiều làng cùng thờ một vị Thần như: Hai Bà Trưng, Lý Thường kiệt, Trần Hưng Đạo…

Thành Hoàng thường được thờ ở đình, đền, ở miếu. Tuy nhiên, có nơi Thành Hoàng còn được thờ ở chùa theo cách “Tiên thần, hậu phật”. Nhiều vị chân tu đắc đạo vẫn được phong thần. Ở các đình, miếu thờ thần đều có thần phả, hay còn gọi Ngọc phả. Đây là cuốn sách ghi chép sự tích các vị thần được thờ (thần tích). Các loại thần phả để lại đến ngày nay, có những lớp thông tin khác nhau, thêm bớt, hiện đại hóa thần tích qua các lần sao chép hay biên soạn lại.

Tóm lại, tín ngưỡng thờ thần và Thành Hoàng làng của người Việt Nam thực chất là thờ phúc thần, nó đóng vai trò liên kết cộng đồng trong làng xã và mở rộng ra cả nước, nhằm giáo dục lòng yêu nước, sống có đạo lý nhân nghĩa và hướng về những điều tốt đẹp. Đó là giá trị văn hóa truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc mà ngày nay con cháu chúng ta được thừa hưởng, thừa kế và phát huy.

Ban Nghiên cứu văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top