banner 728x90

Thờ cúng các Vua Hùng, khởi nguồn của văn hóa truyền thống dân tộc

21/04/2024 Lượt xem: 3268

Truyền thuyết dân gian đất Phong Châu nhiều nghìn năm qua vẫn liền mạch lưu truyền về sự hiện tồn của 18 đời vua Hùng, trong đó, vị Vua Hùng đầu tiên đã có công dựng ra nhà nước Văn Lang đầu tiên trong lịch sử hình thành của cộng đồng Việt Mường - và sau đó là của cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Nếu như trên vùng đất Phong Châu cổ xưa, núi thiêng Nghĩa Lĩnh trở thành biểu tượng trung tâm khởi nguồn và quy tụ sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thờ cúng các vua Hùng thì với người Việt - Mường xưa, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, mà đỉnh cao là biểu tượng tín ngưỡng thờ các vua Hùng, lại lan tỏa từ trung tâm Kinh đô Văn Lang để đến với mọi gia đình tại khắp các làng bản, thôn xóm trên đất nươc ta.

Lễ dâng hương giỗ tổ

Dường như, không nơi đâu như vùng đất Văn Lang này, người dân đã “bình dân hóa” hình tượng các Đức Vua, đón vong linh các Đức Vua (bài vị) về phối thờ trên cùng ban thờ Tổ tiên của dòng họ mình, gia đình mình, tạo ra sự gần gũi thường nhật, can dự vào mọi hành vi, hoạt động của con người trên bước đường làm ăn, đấu tranh sinh tồn qua hàng nghìn năm lịch sử. Chính từ không gian văn hóa liên thông này, trong tâm thức bao đời, ý thức dân tộc và ý thức lịch sử, sự quý trọng vĩ nhân và ước nguyện cộng đồng, trong tư duy văn hóa người dân qua hàng nghìn năm, luôn luôn hòa quyện, phối nhập một cách hồn nhiên, hình thành nên một lẽ sống, một đạo lý tri ân, mang tính truyền thống đối với các bậc tiền nhân của cộng đồng dân tộc.

Có thể nói, ngay từ khởi nguồn, những tín ngưỡng sơ khai thờ cúng các Vua Hùng và các nhân vật liên quan đến thời đại các Vua Hùng, đã bắt nguồn từ tục thờ cúng tổ tiên của cư dân Việt - Mường, thể hiện sự nối kết tâm thức tri ân lớp người khai sáng cho gia đình, dòng tộc và cao hơn cả là tri ân những người có công khai phá, tạo lập cộng đồng, vượt qua mọi thử thách của tự nhiên khắc nghiệt và các thế lực ngoại xâm, đặt nền móng cho sự liên kết sức mạnh cộng đồng, vươn tới đỉnh cao là ý thức tự hào và tâm nguyện củng cố - bảo vệ một quốc gia, một dân tộc. Trải qua tiến trình vận động, biến đổi của lịch sử, nhận thức về lịch sử, về vị thế của đất - nước, nơi tụ cư của cộng đồng, dần dần được nâng cao. Những bài học về sự thành - bại, được - mất trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội đã là những cơ sở cốt lõi giúp cho cộng đồng đúc kết nên những kinh nghiệm - chuẩn mực sinh tồn, gìn giữ và khai thác những yếu tố đắc dụng và loại trừ những thành tố khả biến ngáng trở, đặng phục vụ hữu ích cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng trước mọi nguy cơ, thách đố của lịch sử.

Và như vậy, ngay từ những niên kỷ đầu tiên sau thời đại các vua Hùng, tín ngưỡng tri ân, tôn vinh các thế hệ tiền nhân được thể hiện qua hàng loạt hành vi thực hành nghi lễ, lễ hội trong hàng loạt cộng đồng làng/xóm đã xác lập và tô đậm thành thói quen những hoạt động đời thường, theo những chuẩn mực văn hóa - xã hội được cộng đồng chấp thuận, duy trì, từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Câu chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ và sinh ra bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai và sau đó là cuộc phân ly để năm mươi người con lên rừng và năm mươi người con xuống biển chính là bóng dáng của lịch sử những tháng năm con người có nhu cầu mở mang địa bàn sinh sống với một thứ quan hệ huyết thống, có vai trò tạo ra cơ sở cho sự cố kết cộng đồng. Lòng tự hào về nòi giống con Rồng cháu Tiên và ý nghĩa của hai tiếng “đồng bào” (sinh cùng một bọc) đã là cội nguồn giữ gìn và bảo vệ mối đoàn kết cho đại gia đình các dân tộc Việt Nam sau này.

Căn cứ trên cứ liệu khảo cổ, dân tộc học và văn chương dân gian, có thể phác được phôi thai và dần định hình từ thời đại Hùng Vương, để rồi, tạo đà khởi nguồn cho những chuẩn mực mang giá trị đạo đức, có ý nghĩa giáo dục, quy tụ, điều chỉnh và vận hành cho mọi hành vi của các thế hệ hậu sinh. Đó là: Giáo dục con cái cần cù, chịu khó lao động; nhắc nhở con cháu học nghề, giữ nghề và luyện tay nghề; động viên con cháu hy sinh vì cộng đồng, tham gia đánh giặc ngoại xâm; quý trọng láng giềng, đoàn kết với người cùng cảnh ngộ; giữ dòng máu huyết thống của Bố Rồng - Mẹ Tiên; có thứ bậc trong gia đình, cần coi trọng và tuân theo luật lệ đặt ra; tuân theo khối đoàn kết thống nhất của cộng đồng xã hội trong quá trình khai phá đất đai canh tác, làm thuỷ lợi, chống lũ lụt và chống ngoại xâm. Giữ trọn tình yêu thương bố mẹ, tình nghĩa anh em, xóm làng,…

Từ những cứ liệu khoa học chính xác, cùng các cứ liệu phong tục, nghi lễ và văn chương dân gian, nảy sinh từ thời đại vua Hùng, đã cho phép chúng ta nhận diện bước đầu: Gia đình các thế hệ người Việt - Mường thời các vua Hùng được hình thành và tồn tại trong một không gian văn hoá đặc sắc là trung du và châu thổ Bắc Bộ, qua thử thách và với các mối quan hệ tự nhiên - xã hội, đã dần định hình được một nếp sống và phong cách sống tương ứng, phù hợp để tồn tại và phát triển. Những phẩm chất văn hoá qua lối sống đó trong lịch sử đã tạo ra những chuẩn mực văn hóa sơ khai cho nét tính cách của người Việt cổ xưa, biết thính nhạy với mọi ứng xử quan hệ để vươn lên cùng tồn tại.

Lễ rước kiệu tại đền Hùng

Điều đó, theo nhìn nhận của lớp người đương đại, là cốt lõi bản địa của một thứ “gia phong” sâu rễ bền gốc, đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự tồn tại của gia đình người Việt thuở ban đầu dựng nước và giữ nước, hình thành nên những nét truyền thống quý báu, định hình như những hệ thống giá trị văn hóa bền vững, được truyền lại cho đời sau học tập, gìn giữ, noi theo. Và như vậy, nếu như đặc trưng của nền văn hóa Việt lúa nước là văn hóa làng, thì tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã xác lập được giá trị khâu nối, liên kết sức sống của văn hóa làng trong không gian văn hóa cộng đồng quốc gia đa dân tộc, trên tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Giá trị liên kết cộng đồng đó đã là hạt nhân tạo ra sức mạnh cho khối đoàn kết đại dân tộc xuyên suốt chiều dài lịch sử, được các triều đại quân chủ phong kiến khai thác, tô đắp và nâng cao thành các thiết chế văn hóa - chính trị, trở thành sợi dây thiêng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc để tạo ra giá trị đạo đức chung cho ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết bền vững mang bản sắc văn hóa Việt Nam.

Ban Nghiên cứu Văn hóa

Tags:

Bài viết khác

Di tích Giàn Gừa và miễu Bà Thượng động Cố Hỷ

Từ trung tâm TP. Cần Thơ theo hướng cầu Cái Răng trên Quốc lộ 61C, đoạn gần đến cầu Rạch Sung có con đường xi măng dẫn vào, quẹo trái theo bảng chỉ dẫn sẽ đến Khu di tích Giàn Gừa. Đây là một quần thể kết hợp giữa phong cảnh thiên nhiên độc đáo và tín ngưỡng dân gian huyền bí, tạo nên một dấu ấn khó phai cho những ai từng đặt chân đến.

Nhà cổ Trăm Cột xã Long Hựu (tỉnh Tây Ninh) – Dấu ấn nhà rường Huế giữa miền Tây

Huyện Cần Đước, tỉnh Long An cũ (nay thuộc tỉnh Tây Ninh) không chỉ nổi tiếng với đặc sản gạo nàng thơm Chợ Đào mà còn là vùng đất giàu giá trị di sản văn hóa. Trong đó, Nhà cổ Trăm Cột là công trình kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn nhà rường Huế, hài hòa trong không gian sông nước Nam Bộ.

Ngàn Nưa (Thanh Hóa): Vùng đất thiêng gắn với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

Ngàn Nưa (xã Tân Ninh, tỉnh Thanh Hóa) là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân gian, gắn liền với những dấu mốc quan trọng trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nơi đây không chỉ được biết đến là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Đông Ngô vào thế kỷ III, mà còn nổi tiếng với những truyền thuyết linh thiêng, huyền bí được lưu truyền qua hàng nghìn năm, tạo nên một không gian văn hóa tâm linh đặc sắc của xứ Thanh.

Nhà thờ Năng Gù – Dấu ấn lịch sử của một giáo xứ lâu đời ở An Giang

Nhà thờ Năng Gù là một trong những công trình tôn giáo tiêu biểu của xã Bình Hòa, tỉnh An Giang (trước đây là Xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang), gây ấn tượng bởi kiến trúc cổ kính và không gian thanh bình giữa vùng quê Nam Bộ. Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, nhà thờ không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của giáo dân địa phương mà còn mang giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc.

Đình Điều Hòa (phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp) – Di tích hơn hai thế kỷ trong tiến trình hình thành cộng đồng Nam Bộ

Tọa lạc tại số 101 đường Trịnh Hoài Đức, phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp, đình Điều Hòa là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của vùng đất Mỹ Tho. Công trình phản ánh rõ nét tiến trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân Nam Bộ trong giai đoạn khai phá phương Nam.

Chùa Nhẫm Dương – Dấu ấn lịch sử, tâm linh và khảo cổ giữa miền núi đá vôi Kinh Môn

Chùa Nhẫm Dương, còn gọi là Thánh Quang Tự, nằm tại phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương cũ (nay thuộc phường Nhị Chiểu, thành phố Hải Phòng). Ngôi chùa tọa lạc dưới chân dãy núi Nhẫm Dương, thuộc hệ thống núi đá vôi Yên Tử kéo dài qua khu vực Đông Bắc Bộ – vùng đất được coi là địa linh nhân kiệt của đồng bằng sông Hồng.

Nghệ thuật khảm sành đặc sắc triều Nguyễn

Huế mang trong mình những nét cổ kính trầm mặc bởi những công trình còn mãi với thời gian, những điện đài lăng tẩm nằm bên dòng sông Hương thơ mộng với kiến trúc đa dạng mang đậm chất truyền thống. Và một nghề cổ cũng góp phần tạo nên vẻ đẹp đậm chất Huế chính là nghề khảm sành sứ.

Nhà cổ Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên – dấu ấn kiến trúc hơn một thế kỷ ở Tây Ninh

Tây Ninh hiện có 223 di tích lịch sử – văn hóa, trong đó có Di tích quốc gia đặc biệt Trung ương Cục miền Nam, 50 di tích cấp quốc gia cùng nhiều công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn Nam Bộ từ thế kỷ trước. Giữa hệ thống di sản ấy, nhà cổ của Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên (1854–1914) được xem là một kiến trúc tiêu biểu, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Top