banner 728x90

Tập tục thờ đá - Nét tín ngưỡng cổ độc đáo

10/05/2024 Lượt xem: 3104

Thời đại đồ đá trải dài nhất trong lịch sử loại người (khoảng vài triệu đến tám vạn năm trước công nguyên). Sự gắn bó của con người với đá trong xã hội nguyên thủy, khi thuyết vật linh tồn tại phổ biến thì người ta thấy rằng: giữa đá và linh hồn con người có mối liên quan chặt chẽ. Tín ngưỡng thờ đá thuộc tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, là một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian sớm nhất xuất hiện ở Việt Nam. Sau thờ đá bị biến dổi và kết nạp vào những tín ngưỡng khác như tín ngưỡng nông nghiệp và tham gia vào nhiều các hình thức thờ phụng khác của người Việt.

Đá cũng là sự sống, cũng có phần hồn, phần xác như con người và đá có thể là nơi trú ngụ cho linh hồn con người, cũng như trong thực tế, thân xác con người sống trong đá (hang), và chết có khi cũng nằm trong đá. Quan niệm đó được huyền thoại hoá thành các câu chuyện ở nhiều dân tộc. Mặt khác, đá lại là đặc trưng cơ bản của núi (núi đá), mà núi là chốn linh thiêng, là nơi thông linh giữa trời và đất. Cho nên, đá có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người với các thế lực siêu nhiên khác.

Hòn đá được thờ tại Yên Tử

Do vậy, bắt nguồn từ quan niệm vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ thần tự nhiên trong đó có tín ngưỡng thờ đá khởi thủy là một quan niệm tối cổ của con người trong quá trình sống phải đối mặt với muôn vàn khó khăn mà thiên nhiên đã tạo ra. Khi quan niệm vạn vật đều có linh hồn, người nguyên thủy nhìn thấy đằng sau mỗi hiện tượng tự nhiên đều có một vị thần. Vị thần đó quyết định sự vận hành của vũ trụ, trong đó có đời sống con người, đặc biệt, đối với một vùng đất nông nghiệp trồng lúa nước.

Từ đó, núi được “thiêng hóa” thành những vị thần khổng lồ hay do thần khổng lồ tạo ra. Tín ngưỡng thờ đá ra đời từ thời hồng hoang, khi con người sáng tạo ra những thân thoại về các vị thần trụ trời, tạo nên những núi non biển cả, kiến tạo ra thế giới mới. Đó là những vị thần khổng lồ dời non, lấp biển. Ý nghĩa giải thích nguồn gốc vũ trụ là một đặc điểm lớn của thần thoại.

Hình tượng khổng lồ là một kiểu nhân vật rất phổ biến trong truyện kể dân gian mọi dân tộc, mọi vùng miền đất nước. Người khổng lồ trong thần thoại Việt Nam cũng rất hào hùng, mỹ lệ, đó là ông chống trời, bà Nữ Oa, ông Tứ Tượng - vị thần khổng lồ kiến tạo, người khổng lồ văn hoá ải Lậc Cậc của miền rừng núi Tây Bắc, đó là những ông Đổng, ông Trấu, ông Tát Bể, ông Đào Sông, ông Xây Rú, người khổng lồ thần thoại. Rồi vua Rồng xứ Lạc, Sơn Tinh, ông Gióng, những ông khổng lồ lịch sử…

Hòn Trống-Mái ở Sầm Sơn (Thanh Hóa), biểu tượng của ý niệm phồn thực

Qua thời gian, từ các nhiên thần, đá được khoác một lớp văn hóa khác, có một lý lịch mới, trở thành các nhân thần, anh hùng văn hóa. Theo truyền thuyết, Hùng Thạch tướng quân là con ông Nguyễn Hòa và bà họ Cao. Mẹ ông được sơn thần báo mộng, có thai ba năm hai tháng thì sinh. Vừa lúc đất nước có giặc, vua sai sứ giả cầu người tài cứu nước. Hùng Thạch tướng quân cho gọi sứ giả vào nhà và bảo về tâu xin nhà vua tạc voi đá, cờ đá sẽ đánh tan giặc. Hùng Thạch vươn vai đứng dậy thành người cao lớn khác thường rồi phi ngựa đá ra trận. Đánh tan giặc, Hùng Thạch tướng quân bay lên gò núi mà hóa. Tại chùa Bổ Đà có ban thờ đặt tượng Thạch Linh thần tướng hay còn gọi là đức Thánh hoá. Ở di tích Ao Miếu còn một tảng đá to nằm trong ao, người dân gọi là Đá Mẹ. Tên gọi khác của ao là Thánh Trì (Ao Thánh) xuất phát từ sự tích đức Thánh Thạch Linh thần tướng sinh ra ở trong ao đó.

Trong sinh hoạt tinh thần ở một số vùng miền quê của người Việt hiện nay vẫn phổ biến hiện tượng thờ cúng những tảng đá có hình thù đặc biệt (giống hình người, hình con vật, hay đồ vật sinh hoạt…) nằm ở những chỗ đặc biệt (như trên ngọn núi, trong hang động, hay dưới gốc cây cổ thụ…). Dân gian thường gọi hiện tượng này là thờ “đá bụt mọc”.

Tín ngưỡng thờ đá ở vùng đồng bào dân tộc

Trong tâm thức của người Việt, sở dĩ những tảng đá có hình thù đặc biệt như vậy là bởi chúng được các vị thần linh tạo ra để trú ngụ. Vì thế, thờ cúng những tảng đá ấy chính là thờ cúng các vị thần ẩn náu trong đó, để nhận sự bảo trợ từ họ. Thường thần Đá đều là các “thần lành”, tức những vị thần dùng sức mạnh và uy lực của mình để đem lại những điều tốt đẹp cho cuộc sống con người, nên dân gian mới gọi những vị ấy là “bụt mọc. Trong mối quan hệ với các tín ngưỡng bản địa khác, tín ngưỡng thờ Đá được gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ thành hoàng, tín ngưỡng phồn thực (trong tín ngưỡng nông nghiệp), các nghi lễ nông nghiệp và các lớp văn hóa khác.

Núi đá ở Việt Nam có nhiều biểu tượng có ý niệm phồn thực. Đó là hòn Trống Mái ở Sầm Sơn, Thanh Hoá, ở Hạ Long; hòn Vợ - hòn Chồng ở Khánh Hoà… Những nơi đó, hiện nay vẫn còn hình hai tảng đá xếp chồng lên nhau. Mỗi khi gió biển thổi, chúng lại phát ra những âm thanh rất lạ, như muốn kể lại cho mọi người về cây chuyện tình thắm thiết. Những tảng đá đó không có biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực nhưng lại có biểu hiện của “ý niệm phồn thực”. Tín ngưỡng thờ đá còn được gắn một lớp văn hóa nữa, là tục thờ Thành Hoàng. Hai loại hình tín ngưỡng dân gian này cũng dễ dàng hòa nhập với nhau. Trong sự kết hợp đó, yếu tố thờ đá dần bị mờ đi, chỉ còn lớp bề mặt, là hình thức thờ Thành Hoàng hiện diện.

Từ xa xưa, tín ngưỡng thờ đá đã gắn với các nghi lễ nông nghiệp, bị biến đổi và kết nạp vào tín ngưỡng nông nghiệp. Tương truyền, đền Thượng trong khu di tích đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, Phú Thọ và đền Thượng trên núi Tản (Ba Vì, Hà Nội) đều có một tảng đá hình vỏ trấu, chiều dài lên tới 2m. Hiện nay, tảng đá đó không còn nữa. Tảng đá thiêng đó là hình thức thờ cúng Mẹ Lúa của cư dân nông nghiệp. Sự tồn tại của tảng đá hình hạt thóc ở hai nơi (núi thiêng) như thế chứng tỏ sự tồn tại của một quan niệm mang tính phổ biến của dân gian. Đó là sự cầu mong mùa màng tươi tốt dựa vào sự thờ cúng vật thiêng.

Ban Nghiên cứu văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Ngựa trong đời sống dân gian

Ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống con người, vừa là phương tiện di chuyển, vừa là biểu tượng văn hóa dân gian. Trong lịch sử, ngựa đóng vai trò quan trọng trong giao thương, hành chính, quân sự và tín ngưỡng.

Lễ cúng tạ đất cuối năm: Nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh của người Việt

Lễ cúng tạ đất cuối năm là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Đây không chỉ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn của con người đối với các đấng bề trên đã che chở cho gia đình suốt một năm qua.

Bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng ông Công ông Táo?

Mỗi dịp cuối năm, cùng với việc chuẩn bị mâm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời, nhiều gia đình Việt cũng tiến hành dọn dẹp, lau chùi bàn thờ để đón năm mới hanh thông, may mắn. Tuy nhiên, bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng Táo quân vẫn là băn khoăn của không ít người, bởi đây không chỉ là vấn đề phong tục mà còn liên quan đến ý nghĩa tâm linh và sự trang nghiêm của không gian thờ cúng.

Ngựa trong dân gian Việt Nam – biểu tượng lịch sử, văn hóa và khát vọng hanh thông

Trong hệ thống 12 con giáp của người Việt, con Ngựa (Ngọ) không chỉ là dấu mốc thời gian mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử giàu tầng nghĩa, gắn với hành trình dựng nước và giữ nước, với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và cả những quan niệm phong thủy, tử vi đã ăn sâu trong tâm thức dân gian. Nhân Tết Bính Ngọ, khi mùa xuân mở ra những hành trình mới, hình tượng con Ngựa lại trở về như một lời nhắc nhở về ý chí bền bỉ, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa của người Việt.

Nhà thờ họ và từ đường trong đời sống văn hóa – tâm linh người Việt

Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống bền vững và giàu ý nghĩa nhất. Đây không chỉ là hoạt động mang tính tâm linh mà còn thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn của con cháu đối với các thế hệ đi trước. Chính từ nền tảng ấy, nhà thờ họ và từ đường đã ra đời như những không gian thiêng, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.

Văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng trong đời sống cộng đồng.

Trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ là hệ thống niềm tin tâm linh, tín ngưỡng Tày – Nùng còn là môi trường tích hợp và sản sinh nhiều giá trị văn hóa, góp phần định hình bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.

Các nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục truyền thống quan trọng trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đây là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính và nhớ về cội nguồn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các nghi thức, nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên thường được thực hiện trong các dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ tổ, lễ cúng ông Công ông Táo, và nhiều dịp quan trọng khác. Dưới đây là một số nghi thức và nghi lễ phổ biến trong thờ cúng tổ tiên:
Top