banner 728x90

Tản mạn: Nét đẹp văn hóa Tết Việt Nam

02/03/2026 Lượt xem: 2395

Chẳng biết Tết Nguyên đán có từ bao giờ nhưng hàng ngàn năm nay, khi đất trời từ giá lạnh đổi sang ấm áp, cây cối thay lộc, đào mai, mơ mận… thi nhau bung nụ thì cũng là lúc con người không thể tĩnh tại mà cứ bâng khuâng, rạo rực, đợi chờ. Ba trăm sáu mươi lăm ngày như dồn lại trong mấy ngày cuối cùng của tháng chạp. Bao lo toan sắm sửa cũng chỉ vì “ba ngày Tết”. Bao hò hẹn lứa đôi bầu bạn cũng chờ đến tết. Bao ước mong kỳ vọng cũng gửi cả vào những giờ phút đầu tiên của năm mới. Rồi thăm viếng, đón đưa. Rồi sắp đặt, sửa soạn. Rồi sắm sanh, trang trí. Rồi điện thoại, nhắn tin… Thời gian sao mà chật chội. Năm mới, cái gì cũng phải tinh tươm và mới mẻ. Từ ngôi nhà, con ngõ; từ chiếc áo, tấm quần; từ bàn ghế, ấm chén; giò chả, bánh chưng, dưa hành, thịt mỡ, hương hoa, bánh trái… cứ chộn rộn hẳn lên.

Tết Việt thực ra đã khởi đầu từ cái ngày 23 tháng chạp tiễn ông Táo về trời. Có lẽ vì sinh ra trong một nước sản xuất nông nghiệp, nhà bếp trở thành tâm điểm sự sống và sự sum vầy, nhất là trong những ngày giá lạnh nên người Việt có sự tích về ba ông đầu rau, rồi có tục thờ thần bếp (ông Táo). Xưa thì là một cây hương tưởng nhớ cắm ở góc bếp, nay là bàn thờ nhỏ đủ hương đăng, hoa quả và trầu nước. Nhà nào có điều kiện thì thêm cả cỗ xôi thịt và cỗ áo giấy, tiền vàng làm lễ tiễn ông Táo về trời báo với Ngọc Hoàng về một năm làm ăn và tu nhân tích đức của gia chủ. Để ông Táo về được trời thì phải có con cá chép vượt vũ môn. Trùng hợp với tư tưởng nhà Phật, lại thêm lễ phóng sinh. Chính vì vậy mà những năm gần đây, cứ đến 23 tháng chạp là cá chép được bán rất nhiều ở các chợ. Cái không khí hư hư, thực thực của lễ tiễn ông Táo về trời và chất nhân văn của việc phóng sinh khiến con người ta muốn làm nhiều việc tốt và luôn tin tưởng ở các tập tục. Điều này làm cho tết Việt thêm linh thiêng và đậm đà bản sắc.

Nhưng với người Việt Nam, thời khắc thiêng liêng, hội tụ nhiều tâm tưởng và cảm xúc nhất vẫn là chiều ba mươi, đêm giao thừa và sáng mồng một tết. Đó là khoảng thời gian kết thúc năm cũ, mở ra năm mới, mọi nợ nần phải trả xong, mọi sắp đặt, sắm sửa phải hoàn thành, sẵn sàng đón giờ khắc sang canh và giờ phút đầu tiên tinh khôi của năm mới. Chính vì vậy, người ta mong mọi điều tốt đẹp trong những thời khắc này.

Nhà thơ Nguyễn Công Trứ có mấy câu đối Tết ngộ nghĩnh: “Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa/ Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà; còn nhà thơ Hồ Xuân Hương thì lại viết: “Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới/ Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào. Xưa vì đói nghèo nên trẻ con, người lớn đều mong đến hai ngày này để hưởng thụ cả về vật chất và tinh thần: thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Trẻ con ước ao tấm áo mới, đồng xu lì xì, người già mong có thêm than củi để sưởi khi cái lạnh chưa tan. Và dù ai nghèo khó đến mấy thì chiều ba mươi, nhà nào cũng có cái thủ heo, giò lợn hoặc chí ít là cân thịt mỡ treo trong nhà. Vì thế mới có câu ca dao châm biếm thầy bói khi phán: Số cô chẳng giàu thì nghèo. Chiều ba mươi Tết thịt treo trong nhà.

Ngày nay, đời sống đã giàu có, no đủ, nhiều vật phẩm ngon, đẹp được sắm sửa cho “ba ngày Tết’ nhưng vẫn không thể thiếu được bánh chưng, giò chả, dưa hành, hoa đào, hoa mai, bánh mứt, hương trầm… Và chiều ba mươi, bàn thờ phải được quét dọn, sửa sang, bày biện hương hoa, lễ vật, mâm cúng tinh tươm để mời tổ tiên, ông bà về đón tết đoàn viên với con cháu. Tâm điểm của ngôi nhà lúc ấy là gian thờ. Bao nhiêu trân trọng, thành kính, biết ơn được thể hiện trong từng cử chỉ bày biện lễ vật, trong lời khấn rì rầm và nén hương thắp lên bàn thờ. Tưởng như ông cha về hiện diện chứng kiến cuộc sống của cháu, con. Lời tâm sự, lời nhớ thương và lời hứa cũng được bày tỏ để cháu, con nguôi ngoai nỗi nhớ người xưa. Đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam đã làm nên mỹ tục thờ cúng tổ tiên, làm cho những khoảnh khắc quý giá của ngày Tết thêm thiêng liêng và rất sâu đậm. Đây cũng chính là bản sắc Việt Nam không thể trộn lẫn với các dân tộc.

Sau lễ cúng trang nghiêm là rộn ràng bữa cơm tất niên trong tình gia đình ấm cúng, đoàn tụ. Người già lấp lánh ánh mắt nhìn con cháu quây quần, trẻ nhỏ đùa vui lăng xăng khoe áo mới, người cha, người mẹ gật đầu hài lòng nhìn con cái trưởng thành. Có thể có đứa chưa giàu, có đứa chưa ngoan, vì vậy, ngày cuối cùng năm cũ, cha mẹ, anh em thêm lời bày vẽ, sẻ chia để mong sang năm mới, mọi người đều có những thay đổi tốt đẹp. Đứa con nào ở xa không về được, lòng mẹ cha đều thấp thỏm. Những cuộc gọi và tin nhắn đã giúp họ bày tỏ tình cảm với nhau. Bao nhiêu người lặn lội, vất vả tàu xe, máy bay cũng chỉ để về kịp cúng tất niên và ăn bữa cơm chiều ba mươi. Người ta hay gọi Tết đoàn viên là vì vậy.

Một nét độc đáo của Tết Việt nữa là dù giàu hay nghèo, xưa hay nay thì tập tục: Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy vẫn được duy trì qua nhiều đời, thể hiện phong cách của người Việt, một dân tộc luôn coi trọng đạo hiếu và đạo học. Ngày đầu quý giá và thiêng liêng nhất phải dành cho ông bà, mẹ cha, anh em họ hàng quyến thuộc rồi đến thầy, cô giáo. Đây cũng là nét rất khác với nhiều quốc gia, dân tộc.

Tết Việt - hai tiếng thiêng liêng và ấm áp trong trái tim hàng chục triệu người con, dù ở trong lòng Tổ quốc hay còn sống khắp nơi trên hành tinh trái đất. Đó là tài sản tinh thần của nhiều thế hệ đang được gìn giữ và trao truyền lại cho con cháu mai sau.

Đào Hương Lan

 

Tags:

Bài viết khác

Truyện ngắn: Chợ nổi miền Tây

Trong nắng lóa đầu ngày, một cậu học trò níu tay tôi: “Cô ơi, cô có khách”. Tôi chưa kịp nói gì thì Ngọc hiện ra trước mặt tôi. Tôi đã từng yêu Ngọc và từng đau vùi cả tháng trời vì Ngọc. Chắc tôi sẽ mừng vì ba năm trời xa lạ anh vẫn còn nhớ, tìm tới nơi tôi trốn tránh, ngỏ lời xin lỗi và dự định đưa tôi về thành phố. Nhưng tôi đã tiễn Ngọc ra bến tàu như tiễn một người khách ghé thăm bình thường: “Em sẽ lấy chồng. Anh thấy đó, anh ấy và em vừa đi chợ nổi về”.

Tản văn: Xuân đến với mọi nhà

Một đời người vui buồn có bao nhiêu ngày Tết mà đề huề con cháu trong không khí ấm áp của tiết trời, của xuân đến bên thềm qua bao thế hệ. Đẹp và cao quý, giản đơn hay cao sang vẫn rộn rã tiếng cười chao trong nắng se vàng. Một tờ lịch cuối cùng đi qua sẽ có một tờ lịch mới mẻ tinh khôi lại đến cho ngày mới, cho năm mới, cho người thân và mong một năm mới nhiều mưa thuận gió hòa trải trên đất Việt khi xuân đến với mọi nhà.

Tản văn: Tết về quê

Tết quê mới đúng nghĩa từ ngàn xưa để lại. Nhưng kỳ thực với người xa quê, ngày Tết được sống trong không khí đoàn viên, đầm ấm gia đình mới là Tết. Tết đó vẫn mãi đi theo dặm dài cuộc đời, xa xứ bao năm vẫn nhớ thương về. Tết nhớ bóng cha già tất tưởi lo toan cho mâm cúng tất niên chiều cuối năm, bóng mẹ hao gầy mừng đứng đợi con đầu ngõ, xoa mái tóc nửa đời sương gió vẫn còn “trẻ thơ”... Tết về quê, nơi đó có sự dịu ngọt tình cảm chan chứa mãi không vơi!

Tản văn: Chợ bến sông quê

Chợ quê có thể nhóm họp trên mặt đê, ở bãi đất trống, ven đường, hay giữa đình làng... Chợ quê chỉ có dăm cái lều thấp lợp rạ mỏng, vài dãy quán ngói... mà hầu hết người mua, người bán đều đứng hoặc ngồi giữa trời, nó chỉ sôi động, ồn ã một chốc lúc buổi sáng hay chiều hôm, rồi lại tan chợ.

Tản văn: Mùa xuân quê tôi

Sau một mùa đông, từng tia nắng ấm áp của mùa xuân đã theo tháng giêng về cùng. Ngọn gió giao mùa cứ xôn xao như từng khúc hát gọi xuân về. Ánh nắng của mùa này cũng vàng hơn. Những tia nắng ấm áp báo hiệu một mùa xuân lại đang về. Bầu trời xanh cũng cao hơn cho những đàn chim én bay về.

Tết trong ký ức của con

Tết này, chúng con – những đứa con đã đủ lớn khôn để có thể tự lo cho mình - lại về bên mẹ. Mẹ ơi, đây là nhang để thắp dâng lên ông bà, đây là áo mới tặng mẹ, tặng ba nè. Còn đây nữa, đây là thuốc bổ, là sữa cho mẹ, vì bây giờ trông mẹ yếu lắm. Tết này mẹ đừng lo lắng gì nữa nhé, chúng con đã khôn lớn cả rồi.

Tản văn: Mong ước mùa xuân

Mùa xuân đã về, ai cũng cầu mưa thuận gió hòa, ai cũng mong cây xanh lộc biếc! Mùa xuân gắn với quê hương, xứ sở…nhất là trong những ngày Tết Việt đầu năm!

Lính đảo xa nhớ Tết quê nhà

Tết này ngoài đảo xa... chúng con cũng tổ chức vui xuân đêm tất niên để vơi đi phần nào nỗi nhớ... đơn vị cũng có những cây đào, cây mai tươi thắm, cũng có những chiếc bánh chưng xanh vụng về không đủ đầy gia vị do chính tay chúng con gói... chúng con không được về ăn tết cùng gia đình là để làm nghĩa vụ bảo vệ biển đảo thiêng liêng của tổ quốc…
Top