Mâm cỗ cúng ông Táo thể hiện tấm lòng thành kính của con cháu đối với các vị Táo Quân, vào những ngày này, dù bận rộn tới mấy, người dân 3 miền đều có sự chuẩn bị chu đáo riêng của mình. Ngày nay, dù đã có sự giao thoa, tuy nhiên, mâm cỗ cúng ông Táo ba miền vẫn có những nét khác nhau cơ bản.

Mâm cỗ cúng Táo quân ở miền Bắc
Người miền Bắc thường cúng ông Công ông Táo khá sớm và thời gian muộn nhất là 12 trưa 23 tháng Chạp Âm lịch bởi người ta quan niệm rằng sau giờ đó ba vị Táo quân đã về trời. Về cơ bản, mâm cúng ngày 23 tháng Chạp của người miền Bắc không khác nhiều so với các ngày cúng Giao thừa hay Hóa vàng với các món truyền thống đặc trưng như gà luộc, bánh chưng, xôi vò, xôi gấc, canh măng, canh bóng, đĩa xào thập cẩm, giò, mâm ngũ quả, nem (chả giò), cá kho, hành muối…
Với những gia đình truyền thống, ưa sự cầu kỳ chỉn chu trong việc làm mâm cỗ cúng thì không thể thiếu các món đặc trưng miền Bắc như xôi chè, chè bà cốt, chè kho, chè xôi nén hoặc chè con ong. Đây đều là những loại chè thường chỉ có miền Bắc.
Tuy tên gọi là chè nhưng đa phần chúng được nấu như xôi, vị ngọt sắc. Khi nấu chè cúng, người ta cố ý để chè vương lên ông đầu rau, thậm chí chủ động bôi chè lên đầu rau để Táo Quân lên Trời tâu bày cho ngọt giọng.
Trong đó, chè kho là món được nhiều người yêu thích và dường như chỉ Tết mới được ăn. Món chè được làm từ đỗ xanh, đường trắng, dầu mè, lá nếp, cốt dừa.
Đồ đỗ xanh với lá nếp như bình thường, sau đó cho vào xay rồi sên hỗn hợp với đường trên lửa cho tới khi cạn. Đĩa xôi chè có màu vàng rực rỡ, vị ngọt sắc, thêm chút vừng phía trên làm tăng thêm mùi vị. Xôi chè ngon nhất là nhấp cùng ngụm trà nhài nóng dịp đầu xuân.
Lễ vật cúng Táo Quân gồm có: mũ ông Công ba chiếc: hai mũ ông và một mũ bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn và 3 con cá làm “ngựa” để Táo quân lên chầu trời.
Các mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những dây kim tuyến màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người dân chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia, tất cả đều bằng giấy bìa. Màu sắc của mũ, áo hay hia thay đổi hàng năm theo ngũ hành: Năm hành kim thì dùng màu vàng, năm hành mộc thì dùng màu trắng, năm hành thủy thì dùng màu xanh, năm hành hỏa thì dùng màu đỏ và năm hành thổ thì dùng màu đen.
Quan niệm đây là thời gian nghỉ ngơi, bàn giao của Hành khiển và Táo Quân nên các gia đình cũng dọn dẹp sạch trên bàn thờ trong gia đình, đốt hết chân nhang cũ, lau chùi bát hương để chuẩn bị đón năm mới. Táo Quân được thờ trên bàn thờ riêng cao hơn bàn thờ tổ tiên, trên đó thờ bộ mũ, hia. Sau khi cúng bái, đốt vàng mã, người ta cũng thay ba ông đầu rau trong bếp bằng cách thả xuống ao và thay bộ mới vào bếp, thay bộ mũ trên bàn thờ.

Mâm cỗ cúng Táo Quân ở miền Trung
Người dân miền Trung cúng ông Táo rất cầu kỳ. Họ thường dâng lên một con ngựa bằng giấy, có yên cương đầy đủ chú không cúng áo mũ vàng mã cho các Táo như người miền Bắc. Ông Táo trong văn hóa Huế và một số tỉnh lân cận cũng có vị trí cực kỳ quan trọng khi người dân vừa thờ ông Táo trên Trang Ông, vừa lập bàn thờ nhỏ ở bếp.
Cứ vào ngày 30, mùng 1, ngày 14 và ngày rằm hàng tháng, gia chủ sẽ dâng lễ cúng ông Táo với hoa quả, nhang đèn. Đặc biệt, người phụ nữ miền Trung nết na hiền thảo luôn được căn dặn phải giữ cho bếp núc sạch sẽ, gọn gàng và yên tĩnh.
Vì vậy, lễ tiễn ông Táo về trời ở vùng này cũng rất trọng thể. Dân Huế thường đốt vàng mã và dâng cúng nhiều lễ vật cho các Táo. Ông Táo cũ được tiễn khỏi bàn thờ bếp và đặt bên cạnh các am miếu hoặc gốc cổ thụ cạnh ngã ba đường, sau đó gia chủ làm lễ rước ông Táo mới về nhà. Tượng ba ông Táo mới cũng được rước lên bàn thờ để gia chủ dễ bề hương khói.

Mâm cỗ cúng Táo Quân ở miền Nam
Người miền Nam thường cúng Táo quân vào buổi đêm, trong khoảng từ 20h đến 23h.
Người miền Nam quan niệm, lễ cúng ông Táo chỉ được thực hiện vào thời điểm cuối ngày, sau khi cả gia đình đã dùng xong bữa tối, không cần phải dùng đến bếp núc để nấu nướng, phiền hà đến các Táo nữa thì mới có thể làm lễ tiễn Táo về chầu trời.
Mâm cỗ cúng ông Công ông Táo ngày 23 của người miền Nam khá đơn giản, gồm có bình hoa tươi, đĩa kẹo “”thèo lèo cứt chuột” làm từ mè đen và đậu phộng, nhang đèn, 3 chung nước nhỏ và đặc biệt là bộ “cò bay, ngựa chạy” – hình giấy con cò và con ngựa dùng để hóa sau khi cúng lễ với mong muốn tiễn Táo về chầu trời nhanh hơn.
Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam