banner 728x90

Những đặc trưng cơ bản trong tín ngưỡng thờ Mẫu

04/10/2024 Lượt xem: 2954

Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng dân gian bản địa, mang đặc trưng của cư dân vùng nông nghiệp, được hình thành trên tín ngưỡng thờ Nữ thần. Tín ngưỡng thờ Mẫu đề cao yếu tố tính nữ thông qua hình tượng người phụ nữ có sức mạnh và quyền năng sinh sôi, nảy nở, phát triển, tạo ra vạn vật, muôn loài, trong đó có con người. Việc tôn thờ và đề cao vai trò của người phụ nữ chính là căn nguyên đầu tiên cho sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu. Từ hiện thực cuộc sống của cư dân nông nghiệp, với khát vọng vươn tới những điều tốt lành, từ thuở hồng hoang, người Việt đã tôn vinh người phụ nữ, người mẹ. Ban đầu, tín ngưỡng thờ Mẫu vốn tản mạn, rời rạc. Trong quá trình phát triển, nó có một hệ thống tương đối nhất quán về điện thần (với các phủ như Thiên Phủ, Địa Phủ, Thoải Phủ, Nhạc Phủ và với các thần như Ngọc Hoàng – Mẫu – Quan – Chầu – ông Hoàng, Cô, Cậu…). Một điện thần với trên 50 vị thần lớn nhỏ đều quy về vị thần chủ cao nhất là Thánh Mẫu. Điều này chứng minh rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu tuy hình thành từ trí tưởng tượng và tâm linh của cư dân nông nghiệp, nhưng có cấu trúc tổ chức khá chặt chẽ. Điều đó đòi hỏi những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu dần phải thành thạo và mang tính chuyên nghiệp cao hơn.

Mẫu Thượng Ngàn

Các hình thức thờ Mẫu ở Việt Nam rất phong phú, trong đó thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ là điển hình nhất, tập trung bản sắc văn hóa người Việt. Nhiều giai thoại, thần tích về các Mẫu in đậm dấu ấn lịch sử dân tộc và gắn với tổ tiên của người Việt. Tín ngưỡng thờ Mẫu không phải là một hình thức tín ngưỡng tôn giáo đồng nhất, mà nó là hệ thống các tín ngưỡng, trong đó ít nhất bao gồm ba lớp thờ khác nhau, nhưng có quan hệ hữu cơ và chi phối lẫn nhau, đó là tín ngưỡng thờ Nữ thần, lớp thờ Mẫu thần và lớp thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ có bốn thánh Mẫu cai quản 4 miền, đó là Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng đa thần. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu còn có sự đan xen, hòa đồng với các yếu tố khác của hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta; đó là tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc. Nữ thần cũng đa dạng. Đó là các vị nữ anh hùng hào kiệt (như Hai Bà Trưng và các nữ tướng của Hai Bà, Bà Triệu, Nguyên phi Ỷ Lan…), là các bà mẹ, người vợ của các anh hùng dân tộc (vì họ đã có công lao giúp chồng, con lập nên sự nghiệp). Ngoài ra, trong các điện thờ Mẫu còn có cả Đức Thánh Trần, Phật. Tượng Mẫu được thờ trong khuôn viên của nhiều đền, chùa với một nhà hoặc một gian thờ theo cấu trúc “tiền Phật hậu Thánh”. Ngoài thánh Mẫu, ở các địa phương khác người dân còn thờ các vị thần có tính địa phương riêng và các loài vật thiêng được nhân hóa đem thờ trong phủ Mẫu như ông Lốt (thần Rắn), ông Hổ…

Tín ngường thờ anh hùng dân tộc 

Tín ngưỡng thờ Mẫu chứa đựng triết lý nhân sinh; có ý thức hướng về cội nguồn dân tộc, đất nước; thể hiện một khía cạnh căn bản trong đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người Việt (biết ơn những người phụ nữ có công giúp dân, giúp nước vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống). Tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn… Đó là một nhu cầu tâm linh của người Việt, nó mang lại cho họ sức mạnh. Mẫu dạy con người sống hướng thiện, có cái tâm trong sáng, biết đối nhân xử thế, thờ phụng ông bà tổ tiên và biết ơn những người có công với dân và nước. Trong quá trình phát triển từ thờ Mẫu đến Mẫu Tam phủ – Tứ phủ, từ giai đoạn thế kỷ XVI trở đi với sự xuất hiện Mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ đã được “thần hóa”, tín ngưỡng thờ Mẫu đáp ứng được khát vọng của con người, nhất là của người phụ nữ. Họ cầu nguyện thần linh cứu giúp họ khỏi rủi ro, bệnh tật, giúp họ đạt tới phúc, lộc thọ. Chính từ đây, Mẫu Tam phủ – Tứ phủ đã phát triển nhanh chóng, lan tỏa khắp mọi miền đất nước với các trung tâm thờ Mẫu lớn như Phủ Dầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), Điện Hòn Chén (Huế). Hiện nay, tín ngưỡng thờ Mẫu đã hình thành một cộng đồng các tín đồ trong những phạm vi rộng hẹp khác nhau (như đồng đền, ông đồng, bà đồng, con nhang, đệ tử…). Có thể thấy rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu trong quá trình phát triển đã vượt lên trên tính phân tán, tùy tiện và đang chuyển hóa từ tín ngưỡng nguyên thủy để trở thành một tôn giáo sơ khai.

Tín ngưỡng thờ Mẫu không ngừng khẳng định vai trò của mình trong đời sống tâm linh của người Việt; thể hiện khát vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong thế giới thực tại. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã tự biến đổi mình bằng cách dung hợp và tiếp biến những giá trị của các tôn giáo, tín ngưỡng dân gian khác ((như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo…). Tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện ước mơ của người dân về sự sinh sôi nảy nở đem lại cuộc sống ấm no. Đồng thời, nó cũng chính là lòng tin của con người vào sự linh thiêng của các vị Thánh Mẫu và thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trong tâm thức của người Việt. Đây cũng chính là giá trị nhân văn và đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam./.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top