banner 728x90

Những giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

07/09/2024 Lượt xem: 3616

Về nhận thức đúng những giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, từ đó xác định thái độ của các tín hữu thờ Mẫu, của những người quản lý xã hội và người dân đối với di sản văn hóa tinh thần này. Có thể nêu một số giá trị tiêu biểu: “Mẹ tự nhiên”, một thế giới quan cổ xưa của người Việt.

Trước nhất, tín ngưỡng thờ Mẫu coi thế giới tự nhiên và con người là một thực thể đồng nhất, thống nhất. Vì tín ngưỡng thờ Mẫu, người Mẹ của con người cũng là người “Mẹ tự nhiên”. Nó không chỉ nhân hóa tự nhiên mà còn nữ tính hóa tự nhiên, làm cho việc sùng bái tự nhiên thành sùng bái con người mang nữ tính. Nói cách khác, với tín ngưỡng thờ Mẫu, việc tôn thờ Mẫu không chỉ với tư cách là hiện thân của bản thể tự nhiên (Mẹ Mưa, Mẹ Mây, Mẹ Sấm, Mẹ Chớp - Mẹ Tứ Pháp hay Mẹ Kim, Mẹ Mộc, Mẹ Thủy, Mẹ Hỏa, Mẹ Thổ - Mẹ Ngũ Hành), mà còn là lực lượng cai quản tự nhiên (Mẫu Thiên cai quản vùng trời, Mẫu Địa cai quản vùng đất, Mẫu Thoải cai quản vùng nước sông biển, Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng núi rừng), cũng chính vì vậy mà Mẫu, hiện thân của người Mẹ Tự Nhiên ấy có thể che chở, mang lại những điều tốt lành cho con người.

Cách nhận thức thế giới theo kiểu “nhất thể hóa” này tuy có mặt hạn chế, nhưng cũng có mặt tích cực, giúp cho con người hòa đồng với tự nhiên, cảm nhận tự nhiên, lắng nghe tự nhiên, mà cuối cùng bảo vệ tự nhiên một cách hữu hiệu hơn. Điều này càng trở nên quan trọng khi mà hành tinh chúng ta đang đứng trước thực tế bị tàn phá dẫn đến sự biến đổi khí hậu, đe dọa chính bản thân con người và nền văn minh của con người. “Bà Mẹ tự nhiên” của chúng ta đã và đang bị những đứa con mình phản trắc và Bà đang nổi giận.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ - Nữ thần sáng tạo và bảo vệ dân tộc Việt Nam

Xác lập một nhân sinh quan tín ngưỡng của người Việt hướng về đời sống trần thế, đó là cầu mong sức khỏe, tiền tài, phúc lộc.

Khác với nhiều tôn giáo tín ngưỡng, dù đó là Phật giáo, Kitô giáo… tín ngưỡng thờ Mẫu không hướng con người và niềm tin của con người về thế giới sau khi chết, mà là thế giới hiện tại, thế giới mà con người cần phải có sức khỏe, có tiền tài và quan lộc. Đó là một nhân sinh quan mang tính tích cực, phù hợp với quan niệm “hiện sinh” của con người trong thế giới hiện đại. Lúc này niềm tin vào cái siêu nhiên mà Thánh Mẫu là đại diện trở nên thứ yếu, mang tính phương tiện, còn mục đích sống của con người mới là quan trọng. Đây cũng là cách tư duy thể hiện tính “thực tế”, “thực dụng” của con người Việt Nam.

 Chúng ta cũng khó đo đếm được có bao nhiêu con người Việt Nam tin vào sức mạnh và sự kỳ diệu của Thánh Mẫu. Chỉ biết rằng, không chỉ hàng ngày người ta đến cầu xin Thánh Mẫu, mà còn vào những dịp hội hè, lễ tiết theo chu kỳ “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ” số lượt người trẩy hội đến các đến phủ tăng gấp bội để cầu mong Mẫu ban cho mình sức khỏe và tài lộc.

Trong nghiên cứu hiện nay, các nhà khoa học đã bắt đầu lý giải được việc những người có căn đồng, tức là những người có những đặc tính tâm sinh lý đặc biệt, lại phải chịu những dồn nén xã hội và tâm lý, nên dễ dẫn đến tình trạng rối loạn về tâm lý và hành vi thì thường sau khi ra trình đồng đều khỏi bệnh, trở về trạng thái tâm sinh lý bình thường. Thậm chí, ngay cả với những người dù không có “căn đồng” mà chỉ để giải tỏa, giải trí trước những sức ép của nhịp sống xã hội đô thị hiện đại (dân gian gọi là đồng đua, đồng đú), thì khi lên đồng cũng giúp họ giải tỏa được những căng thẳng.

Những tín đồ của tín ngưỡng thờ Mẫu, nhất là những người làm nghề kinh doanh buôn bán có một niềm tin mãnh liệt vào Thánh Mẫu, người có thể phù hộ cho họ buôn bán phát đạt. Ở đây, chúng ta khó có thể khẳng định được thực sự có hay không một lực lượng siêu nhiên nào đã hỗ trợ cho họ trong việc kinh doanh buôn bán, có lẽ lúc này, niềm tin của con người giữ vai trò quyết định, nó có thể tạo nên sức mạnh vật chất thực sự.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một thứ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được tâm linh hóa, tín ngưỡng hóa.

Tín ngưỡng thờ Mẫu, thông qua các ký ức, các truyền thuyết và huyền thoại, qua các nghi lễ và lễ hội đã thể hiện rõ ý thức lịch sử và ý thức xã hội của mình. Trong điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu, hầu hết các vị Thánh đã được lịch sử hóa, tức là đều hóa thân thành những con người có danh tiếng, có công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tất nhiên, trên thực tế có không ít những vị Thánh thần vốn thoát thai từ các nhân vật có thật trong lịch sử, sau này được người đời tô vẽ, thần tượng lên thành các vị thần thánh, tức là các vị thần thánh có “nguyên mẫu” trong lịch sử (Trần Hưng Đạo Đức Thánh Trần, Mẹ Âu Cơ – Mẫu Thượng Ngàn, Lê Khôi hay Nguyễn Xí – ông Hoàng Mười, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan – Ông Hoàng Bơ, bà Lê Chân, Thánh Mẫu Bát Nàn…). Ngoài ra còn có các vị thần linh, vốn là các thiên thần hay nhiên thần, nhưng lại được người đời “nhân thần hóa” hay “lịch sử hóa”, gán cho họ có sự nghiệp, có công trạng với đất nước hay từng địa phương. Bằng cách đó, tín ngưỡng thờ Mẫu gắn bó với cội nguồn và lịch sử dân tộc, trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tín ngưỡng hóa, tâm linh hóa, mà trong đó người Mẹ - Mẫu là nhân vật trung tâm.

Nghệ thuật diễn xướng và hát văn luôn gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu (Ảnh: VOV)

Hướng con người đến thái độ sống hòa hợp, hòa nhập, khiến cho tín ngưỡng thờ Mẫu trở thành biểu tượng đa văn hóa tộc người.

Tín ngưỡng thờ Mẫu vốn là tín ngưỡng bản địa của dân tộc Việt, nhưng nó thể hiện một khả năng tích hợp tôn giáo tín ngưỡng cao. Đây là một tín ngưỡng bản địa có từ lâu đời, nhưng trong quá trình hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu đã tiếp thu, tích hợp và bản địa hóa nhiều ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo. Mặt khác nó còn tích hợp văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số như người Dao, Tày, Nùng, Chăm, Khơme.  Trong hệ thống các thần linh có nhiều vị thần người dân tộc thiểu số, như các vị Thánh hàng Chầu (chúa), Thánh Cô, do vậy nó cũng tích hợp các sinh hoạt văn hóa của các dân tộc thiểu số đó vào trong nghi lễ của tín ngưỡng này (ăn mặc, âm nhạc, múa hát…). Điều này thể hiện tính dân chủ, bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc, tính cởi mở dễ hòa nhập của tín ngưỡng thờ Mẫu.

Lên đồng là một nghi lễ quan trọng bậc nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu, là một hình thức diễn xướng tâm linh, một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc Việt.

Tín ngưỡng thờ Mẫu và các hình thức Shaman giáo đều ẩn chứa những giá trị văn hoá nghệ thuật rất phong phú. Đó là kho tàng truyền thuyết, thần tích, huyền thoại về các thần linh, đó còn là các hình thức diễn xướng với âm nhạc, ca hát, vũ điệu, trang phục, hình thức trang trí, kiến trúc... Nhiều người đã nói tới Diễn xướng tín ngưỡng thờ Mẫu như là một hình thức sân khấu tâm linh hay một văn hoá tín ngưỡng thờ Mẫu. Ở hình thức diễn xướng này chúng ta có thể thấy được lỗi nghĩ, nếp sống, các quan niệm nhân sinh, thấy được nếp ăn (ẩm thực), cách mặc, cách sinh hoạt, nghi lễ của cha ông xưa; được chiêm ngưỡng sự hiện thân của các thần linh vốn là các nhân vật lịch sử hay thần linh đã được “lịch sử hóa” với công trạng, tính cách, điệu bộ rất sinh động. Quả thực đó là một bộ sưu tập lịch sử và văn hóa vô cùng phong phú và sinh động, một “bảo tàng sống” văn hóa Việt Nam như một học giả nước ngoài nhận định.

Chỉ riêng nghi lễ Hầu bóng - Lên đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu đã sản sinh ra loại hình âm nhạc - hát văn, mà theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, đó là một trong hai loại hình dân ca tiêu biểu của người Việt đóng góp vào kho tàng âm nhạc thế giới. Chúng tôi tự nhận thấy và hy vọng rằng loại hình diễn xướng Lên đồng này sớm muộn sẽ được UNESCO tôn vinh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Chính những giá trị nhận thức, giá trị lịch sử, truyền thống, xã hội, văn hóa kể trên đã luôn đặt tín ngưỡng thờ Mẫu vào vị trí những tôn giáo, tín ngưỡng bản địa hàng đầu của dân tộc Việt Nam.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

 

 

 

 

Tags:

Bài viết khác

Hải Phòng: Mâm bồng và lễ rước lão – nét đẹp văn hóa ở đình Tây

Mỗi mùa xuân về, lễ hội đình Tây không chỉ là dịp tưởng nhớ tiền nhân mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. Trong đó, mâm bồng đầy sắc quả và nghi lễ rước lão vẫn lặng lẽ góp phần làm nên bản sắc riêng, gợi nhắc về một truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa cây đào - quất - mai ngày Tết

Tết đến xuân về, người Việt thường mua đào, mai, quất về trưng bày cho ngôi nhà, mong muốn may mắn, phước lộc sẽ đến với mọi người trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của các loài cây này, chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cành đào, cây quất, cây mai đã trở thành tục lệ, nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới

Mong muốn gặp những điều tốt đẹp, may mắn, sung túc người Việt có những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau…

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” trong văn hóa người Việt

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa của người Việt, nhưng người ta không xác định được chính xác nguồn gốc của câu nói dân gian này. Trải qua hàng nghìn năm, câu nói dân gian “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã trở thành một thành ngữ ăn sâu vào trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam.

Tục tống cựu nghinh tân đón Tết của người Việt

Tống cựu nghinh (nghênh) tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến, tống tiễn những khó khăn vất vả năm cũ và dành chỗ cho những may mắn tốt đẹp sắp đến trong năm mới.

Đi Lễ Chùa Đầu Năm - Nét Duyên Trong Phong Tục Ngày Tết

Trong đời sống văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng thì đi lễ chùa đầu năm cầu may mắn, bình an là phong tục tập quán lâu đời. Mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở trong quan niệm, khởi đầu năm mới và gắn liền với tín ngưỡng của người Việt.

Phong tục truyền thống Đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới.

Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Top