banner 728x90

Kiến trúc đền, phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu

25/09/2024 Lượt xem: 5524

Mẫu và các vị Thánh Tứ phủ được thờ cúng ở đền, phủ, miếu, điện và cả trong chùa, tuy nhiên thờ Mẫu ở đền, phủ vẫn phổ biến hơn cả. Ở Bắc Bộ, có hai phủ chính thờ Mẫu Liễu, đó là Phủ Dầy và Phủ Tây Hồ (Hà Nội), có khi người ta còn kể thêm cả Phủ Sòng Sơn (Thanh Hóa), tuy nhiên cũng có khi người ta coi Sòng Sơn cũng chỉ là đền (Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh). Bởi thế, trong quan niệm dân gian, Phủ là nơi trung tâm, nơi thờ chính Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị Thánh đức thờ phụng cao nhất và nhiều nhất trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ.

Tại Huế, nơi thờ Mẫu Thiên Ya Na và Mẫu Liễu thì lại gọi là Điện, Điện Hòn Chén (hay Huệ Nam Điện), Tiên Cảnh Điện, Đập Đá Điện… chỉ nơi trụ sở của Thiên Tiên Thánh giáo mới gọi là Thánh Đường. Như vậy, Điện tại Huế cũng giống như đền, phủ ở Bắc Bộ. Nam Bộ thì nơi thờ Mẫu được gọi là Miếu, Diện và thậm chí cả Chùa nữa, ví dụ chùa Hang tại Bà Đen (Tây Ninh) hay Chùa Bà (Chợ Lớn, Tp.Hồ Chí Minh)…

Kiến trúc của di tích Phủ Dầy Nam Định

Có một điều dễ nhận thấy nhất là tuy tục thờ Mẫu ở nước ta có từ rất lâu đời, là tín ngưỡng có nguồn gốc khá nguyên thủy nhưng cấu trúc các đền, phủ kể trên thì đều có niên đại muộn, khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tiêu biểu nhất là kiến trúc Phủ Dầy thì lần trùng tu cuối cùng để có diện mạo kiến trúc như ngày nay là vào năm Duy Tân 1914, đặc biệt là Lăng Mẫu, một kiến trúc có giá trị thì cũng xây từ năm 1938 do vua Bảo Đại cúng tin. Tất nhiên, các kiến trúc Phủ Dầy có trước, mà các bia lý để lại cho ta niên đại những năm xây dựng và trùng tu, như xây đầu tiên vào thời Cảnh Trị 1663-1671 rồi thời Tự Đức lại trùng tu (1866).

Di tích Điện Hòn Chén ở Huế thì vốn xưa chỉ là ngôi miếu thờ Sơn Thần núi Ngọc Trản xây từ thế kỷ XVII, sau nhiều lần trùng tu, nhưng diện mạo kiến trúc như hiện nay thì chỉ vào thế kỷ XIX đời vua Đồng Khánh, sua khi nhà vua đi cầu và được linh ứng. Lần này là vào năm 1886-1887 và đổi tên thành Huệ Nam. Còn Phủ Tây Hồ thì mãi tới năm 1943 vẫn chỉ là Điện Mẫu trong chùa. Sau đó là các lần xây dựng vào năm 1947, 1952 và sau này phủ mới được xây dựng như ngày nay. Tình trạng các ngôi đền, miếu, điện thờ Mẫu ở miền Nam thì mãi tới cuối thế kỷ trước còn khá đơn sơ, nó chỉ được trùng tu khang trang hơn vào những thập kỷ giữa thế kỷ này, thậm chí vào những thập kỷ gần đây.

Điện Hòn Chén là một di tích thuộc quần thể kiến trúc cố đô Huế

Có thể giải thích hiện tượng này từ nhiều căn nguyên khác nhau. Trước nhất, tuy là tín ngưỡng dân gian có nguồn cội xa xưa, nhưng suốt thời kỳ chế độ phong kiến với tư tưởng Nho giáo độc tôn, thì thờ Mẫu coi là thứ thờ cúng nhảm nhí, bị cấm đoán, nhà nước không thừa nhận. Bởi vậy, tuy không bao giờ mất đi, nhưng nó vẫn nương mình nơi thờ cúng dân dã ở các làng xã, đó là các ngôi miếu, ngôi đền nhỏ hay nương mình với tư cách là một bàn thờ, một điện thờ Mẫu trong chùa. Thời Trịnh -Nguyễn, với phái Nội đạo, triều đình đã xung khắc quyết liệt với tín ngưỡng thờ Mẫu và dùng phái Nội đạo để chống lại, mà truyền thuyết về trận “Sòng Sơn đại chiến” đã phản ánh khá đầy đủ thái độ của nhà nước phong kiến với tín ngưỡng này.

Chỉ từ thế kỷ XIX, xã hội phong kiến đi vào con đường suy vong, thực dân Pháp xâm lược nước ta, gây ra bao đau khổ và loạn lạc, Đạo Thiên chúa theo gót chân xâm lược nước ta và truyền bá mạnh đông đảo tầng lớp nhân dân. Trong bối cảnh đó, tín ngưỡng dân gian, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu mang truyền thống dân tộc lâu đời, đã trỗi dậy như là một phản ứng, một đối trong trước sự thâm nhập văn hóa ngoại lai. Đặc biệt, trong thời điểm ấy, vua Đồng Khánh và sau này là Bảo Đại đã thừa nhận tín ngưỡng thờ Mẫu, coi mình như là đệ tử, do vậy đã nâng uy tín và tự đứng ra tu tạo các đền thờ Mẫu, làm cho tín ngưỡng này vốn chỉ nương mình sua lũy tre xanh làng quê, thành một thứ đạo sánh cùng các tôn giáo khác. Ở miền Bắc 1954 và ở miền Nam trươc năm 1975, tín ngưỡng thờ Mẫu có xu hướng tập hợp và hợp nhất thành giáo hội thống nhất từng vùng và cả nước. Và cũng từ sau Đồng Khánh, Tổng đốc Nam Định Cao Xuân Dục đã đứng ra trùng tu Phủ Dầy, rồi trong các kỳ lễ tiết “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ” đều có đại diện chính quyền đến các Đền, Phủ trung tâm làm chủ tế.

Hiện nay, Phủ Dầy là nơi trung tâm thờ Mẫu cũng như các đền phủ thờ Mẫu hay liên quan tới thờ Mẫu ở các địa phương trong cả nước đều đã được nhà nước xếp hạng công nhận là di tích lịch sử - văn hóa có giá trị cần phải được bảo vệ. Như Đồng Bằng (Thái Bình), Kiếp Bạc (Hải Hưng), Tây Hồ (Hà Nội), Hòn Chén (Huế), Tháp Bà (Nha Trang), Điện Bà Chúa Xứ (An Giang)… Đó đều là những kiến trúc mang nhiều nét đặc sắc của kiến trúc nhà Nguyễn giai đoạn cuối.

Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang) được thiết kế theo hình chữ “Quốc” trong chữ Hán với ngôi chính được kiến trúc hình khối tháp dạng “hoa sen nở” có mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh.

Trong các đền, điện không chỉ có thờ Mẫu mà còn thờ nhiều vị thần khác, do vậy, bản thân kiến trúc đền thờ Mẫu không mang những nét hoàn toàn riêng biệt giống như ngôi đình thờ Thành Hoàng làng. Có nét riêng, chăng là ở môi trường kiến trúc và bố trí mặt bằng kiến trúc của đền phủ.

Bất cứ kiến trúc Việt Nam nào, đặc biệt là kiến trúc tôn giáo đều phải dựa trên một địa thế “sơn thủy”, gắn liền kiến trúc với môi trường thiên nhiên, địa chất thiên nhiên vào trong kiến trúc. Phủ thờ Mẫu lại thể hiện cái “chất thiên nhiên” này một cách riêng. Mẫu Tứ phủ là đồng nhất với vũ trụ, thiên nhiên, con người, đất nước, nên cái chất thiên nhiên ấy không chỉ là hài hòa giữa kiến trúc và tự nhiên mà còn là bản chất của sự thờ phụng đó. Bởi vậy, các đền, phủ đều phải đặt ở những địa thế gợi tạo “chất tự nhiên” ấy. Kiến trúc Phủ Dầy, Tây Hồ, Hòn Chén bản thân nó đã nói lên tư tưởng đó.

Vậy mà trong cái môi trường đầy chất tự nhiên có phần hoang sơ huyền bí ấy, lại là một thế giới thần linh đầy chất thế tục, con người với những tượng tranh, đồ lễ, trang trí đẹp, rực rỡ, không một chút đe dọa, mà đầy gợi cảm. Người ta đến đây để mà cầu xin tài lộc, sức khỏe của đời sống hiện tại. Phải chăng đó là sự đối lập, tương phản tạo nên một nét riêng của kiến trúc đền, phủ thờ Mẫu.

Kiến trúc Đền, Phủ thờ Mẫu thường được xây dựng dưới dạng quần thể, chứ ít khi là một công trình đơn chiếc. Có thể dẫn ra Phủ Dầy với quần thể gồm 21 di tích nằm rải rác trên diện tích mỗi chiều hơn 1 km. Cũng có thể nói tới Điện Hòn Chén, 1 quần thể gồm 12 di tích thờ cúng nằm trên diện tích không lớn, nằm kẹp dưới chân núi Ngọc Trản và mép nước Hương Giang. Ngôi đền thờ Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ (Lạng Sơn) cũng bao gồm đền chính và hai đền khác là Đền Chầu Bé, Đền Kẻng cách xa nhau từ 500 -1000m. Còn Phủ Tây Hồ thì ngoài Phủ chính, còn có Phủ Sơn Trang, đền thờ Cô và đền thờ Cậu nằm độc lập trong quần thể… Đây cũng là một giải pháp kiến trúc thể hiện tư tưởng hòa nhập giữa nơi thờ cúng với khung cảnh thiên nhiên.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

 

Tags:

Bài viết khác

Ngựa trong đời sống dân gian

Ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống con người, vừa là phương tiện di chuyển, vừa là biểu tượng văn hóa dân gian. Trong lịch sử, ngựa đóng vai trò quan trọng trong giao thương, hành chính, quân sự và tín ngưỡng.

Lễ cúng tạ đất cuối năm: Nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh của người Việt

Lễ cúng tạ đất cuối năm là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Đây không chỉ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn của con người đối với các đấng bề trên đã che chở cho gia đình suốt một năm qua.

Bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng ông Công ông Táo?

Mỗi dịp cuối năm, cùng với việc chuẩn bị mâm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời, nhiều gia đình Việt cũng tiến hành dọn dẹp, lau chùi bàn thờ để đón năm mới hanh thông, may mắn. Tuy nhiên, bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng Táo quân vẫn là băn khoăn của không ít người, bởi đây không chỉ là vấn đề phong tục mà còn liên quan đến ý nghĩa tâm linh và sự trang nghiêm của không gian thờ cúng.

Ngựa trong dân gian Việt Nam – biểu tượng lịch sử, văn hóa và khát vọng hanh thông

Trong hệ thống 12 con giáp của người Việt, con Ngựa (Ngọ) không chỉ là dấu mốc thời gian mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử giàu tầng nghĩa, gắn với hành trình dựng nước và giữ nước, với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và cả những quan niệm phong thủy, tử vi đã ăn sâu trong tâm thức dân gian. Nhân Tết Bính Ngọ, khi mùa xuân mở ra những hành trình mới, hình tượng con Ngựa lại trở về như một lời nhắc nhở về ý chí bền bỉ, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa của người Việt.

Nhà thờ họ và từ đường trong đời sống văn hóa – tâm linh người Việt

Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống bền vững và giàu ý nghĩa nhất. Đây không chỉ là hoạt động mang tính tâm linh mà còn thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn của con cháu đối với các thế hệ đi trước. Chính từ nền tảng ấy, nhà thờ họ và từ đường đã ra đời như những không gian thiêng, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.

Văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng trong đời sống cộng đồng.

Trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ là hệ thống niềm tin tâm linh, tín ngưỡng Tày – Nùng còn là môi trường tích hợp và sản sinh nhiều giá trị văn hóa, góp phần định hình bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.

Các nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục truyền thống quan trọng trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đây là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính và nhớ về cội nguồn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các nghi thức, nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên thường được thực hiện trong các dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ tổ, lễ cúng ông Công ông Táo, và nhiều dịp quan trọng khác. Dưới đây là một số nghi thức và nghi lễ phổ biến trong thờ cúng tổ tiên:
Top