banner 728x90

Hướng dẫn chấm đề kiểm tra chất lượng học sinh giỏi cấp huyện môn ngữ văn lớp 8 của tỉnh Bắc Giang

30/11/2025 Lượt xem: 2354

HƯỚNG DẪN CHẤM

BÀI KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN 

MÔN: NGỮ VĂN 8

NĂM HỌC 2024 - 2025

(Gồm 06 trang)

 

I. YÊU CẦU CHUNG

- GV cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh.

- Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng. Giám khảo cần linh hoạt khi vận dụng; cần đánh giá bài làm của thí sinh trong tinh thần chỉnh thể, trân trọng khuyến khích những bài có cảm xúc và sáng tạo, có ý kiến và giọng điệu riêng; chấp nhận các cách kiến giải khác nhau, kể cả không có trong hướng dẫn chấm nhưng phải hợp lí và có sức thuyết phục.

- Giữ nguyên số điểm đạt được của bài (không làm tròn điểm).

II. YÊU CẦU CỤ THỂ

Phần I. ĐỌC - HIỂU (5,0 điểm)

Câu 1: (1,0 điểm)

- Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do (0,5 điểm)

- Tác dụng: Thể thơ tự do với câu chữ phóng khoáng, vần nhịp linh hoạt đã giúp nhà thơ diễn tả sinh động được cảm xúc nghẹn ngào, tiếc thương, cảm phục, ngợi ca, biết ơn… của mình trước sự hi sinh anh dũng của cô gái mở đường. (0,5 điểm)

Hướng dẫn chấm:

- Xác định đúng thể thơ và nêu được tác dụng cụ thể cho điểm tối đa.

- Xác định đúng thể thơ nhưng chỉ nêu được tác dụng chung chung cho 0,75 điểm.

- Không xác định đúng thể thơ tự do thì không cho điểm cả câu.

Câu 2: (1,0 điểm)

- Đoạn trích trên gợi liên tưởng đến văn bản “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê) hoặc văn bản “Lá đỏ” (Nguyễn Đình Thi) (0,5 điểm)

- Cơ sở liên tưởng: (0,5 điểm)

           + Cùng viết về hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

           + Cùng chung cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, chấp nhận gian khổ hi sinh của tuổi trẻ Việt Nam trong kháng chiến.

Hướng dẫn chấm:

- Liên tưởng đúng văn bản và nêu được rõ các cơ sở liên tưởng cho điểm tối đa.

- Liên tưởng đúng văn bản nhưng chỉ nêu được 01 cơ sở liên tưởng cho 0,5 điểm.

- Không liên tưởng đúng văn bản thì không cho điểm cả câu.

Câu 3: (2,0 điểm)

- Xác định biện pháp tu từ: (1,0 điểm)

+ Nói giảm, nói tránh: Em nằm dưới đất sâu

+ So sánh: Em nằm dưới đất sâu – Như khoảng trời đã nằm yên trong đất.

+ Ẩn dụ: “Những vì sao ngời chói, lung linh”

- Tác dụng: (1,0 điểm)

+ Thể hiện nỗi tiếc thương, cảm phục, ngợi ca và bất tử hoá sự hi sinh nhẹ nhàng, thanh thản mà anh dũng của cô gái mở đường. Mặc dù cô gái đã trở về nằm trong lòng đất mẹ nhưng tâm hồn trong sáng, lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu dũng cảm của cô vẫn toả rạng, vẫn trường tồn cùng non sông.     

+ Giúp cho diễn đạt thêm linh hoạt và giàu sức gợi hình, gợi cảm, gợi liên tưởng phong phú, sâu sắc.

Hướng dẫn chấm:

- Xác định và phân tích 2/3 biện pháp tu từ thì cho điểm tối đa.

- Xác định và phân tích tác dụng của 1 biện pháp tu từ cho 1,0 điểm.

- Nếu chỉ gọi tên biện pháp tu từ, không chỉ rõ thì cho 0,25 điểm.

- Nếu không xác định đúng biện pháp tu từ thì không cho điểm cả câu.

Câu 4: (1,0 điểm)

 Thí sinh có thể có những cảm nhận riêng, nếu hợp lí vẫn cho điểm tối đa.

Có thể tham khảo gợi ý sau:

- Tuổi trẻ Việt Nam trong kháng chiến cứu nước là thế hệ sớm có lòng yêu nước, có tinh thần trách nhiệm và có lí tưởng cao đẹp của tuổi trẻ.

- Khi đất nước có giặc ngoại xâm, họ hăng hái xông pha nơi chiến trường, trực tiếp đối mặt với quân thù, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hi sinh. Trong gian khổ, hiểm nguy, họ vẫn hiên ngang dũng cảm, vẫn trong sáng, lạc quan, yêu đời.

- Là thế hệ đã góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Phần II. VIẾT (15,0 điểm)

Câu 1. Từ nội dung phần Đọc hiểu trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) để trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước trong bối cảnh hiện nay. (5,0 điểm)

a. Đảm bảo thể thức, dung lượng của một đoạn văn nghị luận xã hội: đoạn văn khoảng 200 chữ, có đủ mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. (0,25 điểm)

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước trong bối cảnh hiện nay. (0,25 điểm)

c. Triển khai hợp lí nội dung của đoạn văn: Có thể viết bài theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau: (4,0 điểm)

-Vì sao tuổi trẻ cần phải có trách nhiệm với quê hương, đất nước?

  + Để có được quê hương, đất nước tự do, giàu đẹp như hôm nay, ông cha ta đã phải đánh đổi bao mồ hôi, máu xương của mình.

  + Tuổi trẻ là tuổi phát triển rực rỡ nhất về thể chất, tài năng, tâm hồn và trí tuệ, có khả năng vượt qua mọi khó khăn gian khổ để xây dựng cho mình một tương lai tươi sáng, góp phần xây dựng quê hương, đất nước mạnh giàu.

  + Thực tế cho thấy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng xung kích đi đầu trong kháng chiến chống ngoại xâm và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

    (Lấy dẫn chứng thực tế để làm sáng tỏ)

– Trách nhiệm của tuổi trẻ với quê hương, đất nước trong bối cảnh hiện nay:

  Để góp phần xây dựng quê hương, đất nước Việt Nam giàu mạnh trong bối cảnh khoa học – công nghệ phát triển và toàn cầu hoá hiện nay, thế hệ trẻ cần:

  + Trân trọng, biết ơn công lao của các thế hệ đi trước; nâng cao tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của đất nước…

  + Kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc bằng những việc làm cụ thể, thiết thực: ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, tích luỹ tri thức; sẵn sàng có mặt khi Tổ quốc cần…

  + Lên án, loại bỏ những biểu hiện ích kỉ, vô trách nhiệm với quê hương, đất nước; kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, hoạt động gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc…

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chỉnh tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. (0,25 điểm)

e. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận. (0,25 điểm)

Nhận xét, đánh giá về giá trị của tác phẩm văn học, nhà văn Nga Lê-ô-nít Lê-ô-nốp có viết:

Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.

Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm rõ sự phát minh về hình thức và khám phá về nội dung của nhà văn Đào Quốc Thịnh qua tác phẩm “Quê hương”. (10,0 điểm)

a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận văn học: Có đầy đủ phần mở bài, thân bài, kết bài. (0,25 điểm)

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: (0,25 điểm)

– Làm rõ vấn đề: Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.

– Phạm vi dẫn chứng: Truyện ngắn “Quê hương” của Đào Quốc Thịnh.

c. Triển khai vấn đề nghị luận: HS vận dụng các thao tác lập luận để triển khai vấn  đề thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, có sức thuyết phục. Có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau, song cần đảm bảo các ý chính sau:

1. Giới thiệu và trích dẫn ý kiến  (0,5 điểm)

2. Giải thích ý kiến  (0,75 điểm)

- Phát minh, khám phá là sự tìm tòi, phát hiện sáng tạo mới mẻ, có ý nghĩa lớn lao…

- Hình thức: Là cách thể hiện nội dung, là vẻ đẹp bên ngoài. Với tác phẩm văn học, hình thức thể hiện ở thể loại, kết cấu, ngôn từ, các biện pháp nghệ thuật,…

- Nội dung: Là vấn đề mà tác giả trình bày. Nội dung tác phẩm văn học là hiện thực đời sống được phản ánh, là quan điểm, tư tưởng, tình cảm mà nhà văn truyền gửi tới bạn đọc.

=> Ý kiến trên đã đặt ra yêu cầu đối với một phẩm văn học cũng là yêu cầu với người cầm bút trong quá trình sáng tạo nghệ thuật: để có một tác phẩm văn học thực sự đòi hỏi người sáng tác phải có sự tìm tòi, sáng tạo cả về hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng.

3. Bàn luận ý kiến (0,75 điểm)

 - Xuất phát từ đặc thù của sáng tạo văn học: mỗi tác phẩm văn học luôn luôn là một công trình duy nhất, không thể lặp lại. Không có sự phát hiện, tìm tòi mới mẻ thì không thể có tác phẩm văn học có giá trị và nhà văn cũng không thể khẳng định được tên tuổi.

 - Trong văn học, nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau. Một nội dung mới sẽ đi tìm cho mình một hình thức mới. Sự đổi mới về hình thức biểu hiện cũng có thể kéo theo những thay đổi về nội dung. Có khi đề cập đến những vấn đề quen thuộc nhưng nhà văn lại thể hiện bằng hình thức mới, độc đáo vẫn mang lại những giá trị hấp dẫn riêng.

- Sự độc đáo, sự sáng tạo về nội dung và hình thức sẽ tạo nên giá trị của tác phẩm và phong cách riêng của nhà văn.

4. Làm sáng tỏ ý kiến  (5,5 điểm)

a. Giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm

b. Chứng minh

 * “Truyện Quê hương” là một phát minh về hình thức: Tác giả Đào Quốc Thịnh lựa chọn đề tài quê hương đới hình thức truyền ngăn giản dị:

- Cốt truyện đơn giản, tình huống truyện tự nhiên, bất ngờ: từ bài văn đạt điểm cao nhất lớp, nhà văn khéo léo dẫn dắt người đọc đến với dòng hồi tưởng và suy nghĩ sâu sắc của nhân vật tôi về bà và quê hương.

- Nhân vật được khắc hoạ chủ yếu qua ngôn ngữ, cử chỉ và đặc biệt là nghệ thuật miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật tôi thay đổi theo mỗi lần về thăm quê khiến cho các nhân vật hiện lên sống động, chân thực, gần gũi.

 - Truyện được kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật tự bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, từ đó tạo sự đồng cảm giữa người kể chuyện và người đọc.

- Ngôn ngữ và chi tiết kể giản dị, thân thuộc, gần gũi,…; kết hợp khéo léo các phương thức kể, tả, biểu cảm khiến câu chuyện lôi cuốn, hấp dẫn…

=> Tất cả đã tạo cho tác phẩm có cách thể hiện mới mẻ, sâu sắc, hấp dẫn đồng thời để lại dấu ấn riêng trong lòng người đọc về phong cách văn xuôi của Đào Quốc Thịnh.

* Truyện “Quê hương” của Đào Quốc Thịnh có là một khám phá về nội dung:

 -Nêu ngắn gọn nội dung chính: Truyện tập trung khái thác dòng hoài niệm đong đầy cảm xúc sâu lắng xen lẫn suy tư về bà và quê hương của đứa cháu sống nơi thị thành. Từ bài tập làm văn của nhân vật tôi được điểm cao nhất trước sự ngạc nhiên của các bạn và thoáng chút nghi ngờ của cô giáo, nhà văn đã dẫn dắt người đọc đến với dòng hồi tưởng về những lần về thăm bà và quê hương. Lúc đầu, nhân vật tôi khó chịu với khung cảnh và món ăn ở quê. Sau khi được nghe bà kể chuyện, nhân vật tôi đã cảm nhận vẻ đẹp và tình người ấm áp nơi đây. Khi bà mất và khung cảnh làng quê thay đổi, tôi đã cảm thấy ngậm ngùi, dồn nỗi nhớ thương vào việc làm bài văn.

-Nêu được chú đề của truyện: “Quê hương vốn không phải là chủ đề xa lạ trong văn học. Xưa nay đã có bao tác phẩm hết lời ca ngợi vẻ đẹp quê hương và giàu tình cảm yêu mến, gắn bó nặng sâu với con người và cảnh vật nơi quê hương xứ sở. Vẫn trong dòng mạch cảm xúc ấy, cây bút trẻ Đào Quốc Thịnh lại có cách khám phá thể hiện riêng cả về nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật. Chính sự sáng tạo ấy đã tạo nên sức sống cho thiên truyện và tên tuổi Đào Quốc Thịnh cũng in đậm dấu ấn trong trái tim bạn đọc.

-Diễn biến tâm trạng của nhân vật tôi với bà và quê hương:

Lần đầu được bố đưa về thăm quê:

 -Thất vọng trước cảnh quê nghèo: “con đường vào làng lầy lội, lớp nhớp bùn sau cơn mưa; những mái nhà tranh thấp lè tè ẩm ướt sau lũy tre làng?”…

 - Chê bai các món ăn ở quê  “Mỡ thế này, cháu ăn làm sao được?!”…

“Canh chưa cho mì chính, nhạt lắm, lại hoi hoi, con ăn chưa quen…”

=> Đó là cảm nhận chung của bao bạn trẻ lớn lên ở thành phố, quen được sống trong sung túc, đủ đầy. Do chưa tiếp xúc, chưa thấu hiểu nên đã vô tình chê bai quê mình.

Khi được nghe bà nội kể chuyện và ngắm trăng cùng bà:

+Qua những câu chuyện bà kể, nhân vật tôi hiểu rằng chính nơi này, “bố tôi đã lớn lên bằng lời ru của bà, bằng đôi tay ẵm bồng của bao người. Bà đã từng mớm cơm cho tôi, nuôi tôi khôn lớn ở đây…” và cậu nhận ra rằng: “Tính cảm quê mùa nhưng chân thật”.

+ Được ngắm cảnh làng quê yên bình cùng bà nội trong đêm rằm trăng sáng, “tôi” đã thốt lên sung sướng: “Bà ơi! Trăng ở quê đẹp thật bà ạ!…”.

=> Câu chuyện của bà giúp cho “tôi” nhận ra được những giá trị đích thực của cuộc sống; trân quý và biết ơn cội nguồn của mình; biết ơn những người thân cùng những điều bình dị nhưng ấm áp tình thương ở quê nghèo ấy.

Khi bà nội mất, cảnh vật làng quê thay đổi và lí do nhân vật tôi viết bài văn tả cảnh quê hương đạt điểm cao nhất lớp

 +Trừ về quê không còn bóng nội và quê nội cũng chẳng còn tí dấu vết nào của ngày xưa nữa, một cảm giác buồn thương, nghẹn ngào, nuối tiếc cứ ngập tràn trong lòng “tôi”.

+ Nhân vật tôi dồn tất cả tình cảm nhớ thương sâu đậm với bà vào bài tập làm văn tả phong cảnh quê hương hôm ấy…

=> Tình yêu, biết ơn bà chính là mạch nguồn của tình yêu quê hương, đất nước trong tâm hồn cậu học trò nhỏ. Tình yêu bà, yêu quê hương và trân trọng những gì gần gũi, thân thuộc xung quanh ta chính là nền tảng làm nên nhân cách của con người, giúp chúng ta viết lên những bài văn tuyệt vời nhất. Sự mới mẻ trong nội dung tư tưởng đó đã tạo nên ý nghĩa nhân văn sâu sắc và sức hấp dẫn của thiên truyện ngắn này.

5. Đánh giá  (1,0 điểm)

 - Ý kiến của nhà văn Nga Lê-ô-nít Lê-ô-nốp không chỉ là tiêu chí đánh giá giá trị một tác phẩm văn học mà còn là bài học định hướng cho người sáng tạo và người tiếp nhận văn học nói chung:

+ Với người sáng tạo văn học: bằng sự sáng tạo và tâm huyết của mình, nhà văn cần viết nên những tác phẩm mới mẻ, hấp dẫn từ nội dung đến hình thức. Đó vừa là thiên chức vừa là trách nhiệm của mỗi nhà người cầm bút, vừa là yêu cầu thiết yếu, sống còn của sáng tạo nghệ thuật.

+ Với người tiếp nhận: Cần có tâm hồn nhạy cảm tinh tế khi tiếp nhận tác phẩm văn học, biết phát hiện, thưởng thức những nét đặc sắc riêng cả về nội dung và hình thức của mỗi tác phẩm; biết trân trọng tài năng và tấm lòng của người sáng tạo văn học.

6. Khái quát, khẳng định lại vấn đề  (0,5 điểm)

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.  (0,25 điểm)

e. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. (0,25 điểm)

 

Tags:

Bài viết khác

Đề thi học sinh giỏi lớp 9 môn ngữ văn tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh: Đề thi học sinh giỏi lớp 9 môn ngữ văn, năm học 2024-2025

Đề kiểm tra chất lượng học sinh giỏi tỉnh Phú Thọ

Tỉnh Phú Thọ: Đề kiểm tra chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ Văn 9, năm học 2024-2025

Đề khảo sát chất lượng học kỳ 1 môn Ngữ văn 9 năm học 2024 – 2025

Đề khảo sát chất lượng học kỳ 1 môn ngữ văn 9 của Phòng GD&ĐT huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Truyện ngắn: Thầy tôi

Cuối cùng nó cũng đậu đại học. Người đầu tiên nó muốn thông báo tin quan trọng ấy không phải là ba hay mẹ nó mà là người thầy kính yêu của nó...

Đề thi khảo sát môn Ngữ văn vào lớp 10 THPT lần 2 năm học 2024-2025

Môn thi: Ngữ Văn. Ngày thi: 22 tháng 4 năm 2025. Thời gian làm bài: 120 phút. Câu 1: Truyện ngắn "Quê hương" thuộc kiểu cốt truyện đơn tuyến và được kể ở ngôi thứ nhất. Câu 2: Thuộc kiểu câu câu cảm thán thể hiện thái độ khó chịu, chê bai của nhân vật khi ăn món ăn quê. Câu 3: - Biện pháp tu từ: So sánh: "Những dãy nhà hai, ba tầng san sát nhau mọc lên như nấm"

Truyện ngắn: Tài sản mẹ để lại cho con

Bố qua đời khi năm nó lên sáu. Mẹ lôi theo 3 chị em nó đi trên đường. Nó cứ túm lấy áo mẹ, trốn vào trong lòng mẹ. Mẹ một tay dắt em gái, một tay ôm em trai, nó thì đứng ở phía trên, tiếng gió thổi qua tai. Cứ như vậy, gia đình nó đã đi ăn xin được 3 năm.

Câu chuyện gia đình: Vì sao họ chung sống với nhau đến già

Nhiều nhà xã hội học cho biết: Hiện ở các nước Phương Tây, đang xảy ra tình trạng các cặp nam nữ thanh niên sống chung không cần hôn thú. Họ xem đó như là một thời kỳ thử nghiệm cho độ bền vững của hôn nhân.
Top