banner 728x90

Hò dân gian - Nét đẹp lưu giữ văn hóa Việt

02/06/2024 Lượt xem: 2710

Hò là một loại hình nghệ thuật dân gian do người dân lao động sáng tạo ra và được ưa chuộng ở nhiều nơi, nhiều vùng miền của Việt Nam. Những điệu hò ngọt ngào, độc đáo là di sản văn hóa phi vật thể tuyệt vời của dân tộc, là kho tàng quý báu lưu giữ bản sắc và văn hóa Việt.

Những câu hò là di sản văn hóa phi vật thể của nước ta, đều có mỗi quan hệ mật thiết với ca dao, tục ngữ. Ta thường nghe thấy thơ luôn đi đôi với ca, thơ ca chính là một sự kết hợp hoàn hảo dễ dàng chạm tới tim người nghe và những câu hò cũng vậy, đó chính là sự kết hợp hoàn hảo giữa ca dao, tục ngữ với âm điệu, nhạc điệu, diễn xướng và âm hưởng riêng để tạo nên những nét đặc trưng riêng. Là một trong các di sản văn hóa quý báu của dân tộc ta.

Hò Ví Giặm tự hào là di sản văn hóa phi vật thể được Unesco công nhận

Ca dao, tục ngữ thường được đúc kết từ kinh nghiệm, tri thức, từ quá trình làm việc hoặc là những câu từ thể hiện tâm tư, tình cảm của những người dân lao động. Chính vì vậy mà những điệu hò rất gần gũi với người dân, dễ nhớ được lời và dễ dàng đi sâu vào lòng người.

Hò có thể được chia làm 3 hình thức chính: hò nghi lễ, hò sinh hoạt và hò trữ tình. Mỗi miền Nam, Bắc đều có đặc trưng riêng và không giống nhau do hoàn cảnh xã hội khác nhau tại 2 miền. Nếu như những câu hò ở miền Bắc trau chuốt, mượt mà, ý nhị thì những câu hò ở miền Nam lại tràn đầy vẻ phóng khoáng, vui tươi, hào sảng.

Ví Giặm là di sản văn hóa được Unessco công nhận là một loại hình dân gian đặc biệt gắn liền với người dân Nghệ - Tĩnh nên trong những câu hò Ví Giặm ta sẽ thường thấy nhiều câu có sử dụng khẩu ngữ địa phương. Những câu hò thường mang nhiều đề tài về thiên nhiên, quê hương, làng xóm, thể hiện tâm tư, tình cảm diễn đạt bằng những ngôn từ hoa mỹ, trau chuốt nhưng vẫn giữ được nét tế nhị, kín đáo, mang nhiều ẩn ý sâu xa. Ở Nam Bộ, cuộc sống người dân gắn liền với sông nước, nên những câu hò Nam Bộ có rất nhiều hình ảnh về các con sông, ao, hồ, kênh, rạch, tôm cá, thuyền bè. Những câu hò Nam Bộ thể hiện sự sảng khoái, bộc trực, đơn giản ít câu nệ những vẫn rất chân tình, gần gũi, hóm hỉnh.

Câu hò gắn liền với sông nước ở miền Nam

Mỗi miền có những câu hò và giai điệu khác nhau nhưng đều đặc sắc và ẩn chứa những khát khao, nguyện vọng, tâm tư, tình cảm của những con người lao động thật thà, chất phác, yêu đời.

Hò là một trong các di sản văn hóa phi vật thể quý báu của Việt Nam. Không giống như các môn nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu thường thấy, tư tưởng gắn bó đoàn kết mọi người dân lao động với nhau, diễn xướng trong hò dân gian là một hình thức kết nối tất cả những người tham gia tại nơi trình diễn.

Văn hóa diễn xướng là nét đặc sắc trong hò dân gian

Diễn xướng hò là một di sản văn hóa được thể hiện theo hình thức xướng – xô, là sẽ có một người hát xướng, những người còn lại phụ họa đáp lại gọi là xô. Về mặt cấu trúc, thời gian hò thường sẽ có 3 giai đoạn, là hò đố, hò huê tình, hò chia tay. Mỗi một câu hò lại có 3 phần: mở đầu là hò lấy hơi, lấy giọng (hò....ơ…….), tiếp theo là hò lời chính, cuối cùng là đoạn hò ngân dài.

Không gian diễn xướng của hò Ví Giặm thường là ở trên cạn hoặc trên sông, do địa hình khí hậu ở miền Bắc trung bộ khắc nghiệt hơn nên các điệu hò trên cạn thường gặp nhiều hơn, một số điệu hò nổi tiếng là: ví phường vải, ví phường nón, ví phường cấy, ví phường gặt, ví xay lúa, ví phường đan… Còn một số điệu hò trên sông là: Ví đò đưa sông La, Ví đò đưa sông Lam, Ví đò đưa nước ngược; Ví đò đưa chuyển phường vải. Hò Ví Giặm thường được tổ chức có quy mô, có các cuộc thi và địa chỉ cụ thể và có sự góp mặt của nhiều nhà Nho, học sĩ nổi tiếng.

Hò đối đáp Nam Bộ, một nét sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể của người dân nơi đây

Ở Nam Bộ thì ngược lại, do người dân nơi đây gắn liền với sông nước, kênh rạch nên những điệu hò trên sông vô cùng phổ biến như: hò kéo chài, hò kéo lưới, hò chèo đò, hò chèo thuyền, hò chèo ghe… Do cuộc sống gắn liền với sông nước, khó cố định nên hò Nam Bộ thường mang tính tự phát, ngẫu hứng, có hò ca lẻ và đối đáp.

Hò là một loại hình nghệ thuật tiêu biểu, là di  sản văn hóa quý báu của nhân dân ta nói riêng và của thế giới nói chung rất cần được trân trọng, bảo tồn, lưu truyền và phát triển.

Ban nghiên cứu Văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Di tích Lịch sử - Văn hóa là gì? Tiêu chí, phân loại di tích lịch sử văn hóa

Di tích Lịch sử - Văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm, hiện vật, di vật, đồ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội một dân tộc, một đất nước. Di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau:

Những nhạc cụ “thổi hồn” cho Di sản Văn hóa hát Then

Hát Then trong đời sống, văn hoá tín ngưỡng, tâm linh của đồng bào Tày, Nùng, Thái vùng cao phía Bắc được ví là "điệu hát thần tiên", điệu hát của “Trời”. Nghệ thuật diễn xướng dân gian này ẩn chứa và phô diễn những giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời. Trong hát Then, đàn Tính và chùm Xóc Nhạc là hai loại nhạc cụ không thể thiếu. Hai loại nhạc cụ này vừa có chức năng giữ nhịp, đệm cho hát, vừa có khả năng diễn tấu linh hoạt, đặc biệt còn được sử dụng như đạo cụ trong những điệu múa Then.

Điều kiện di tích lịch sử văn hóa được xếp loại là di tích quốc gia

Theo quy định tại Điều 29 Luật Di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi bởi khoản 10 Điều 1 Luật Di sản văn hóa sửa đổi năm 2009, việc phân loại di tích lịch sử và văn hóa phải dựa trên những điều kiện về giá trị lịch sử và văn hóa. Các điều kiện này được quy định rõ ràng nhằm xác định và bảo vệ các di tích có giá trị quan trọng đối với quốc gia và dân tộc. Cụ thể, các di tích được phân loại dựa trên bốn điều kiện cơ bản:

Thủ tục xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia

Di tích lịch sử Việt Nam đã được phân thành ba cấp khác nhau, nhằm phản ánh giá trị lịch sử, văn hoá và khoa học của chúng. Đây là một dạng di sản văn hoá vật thể, bao gồm các công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình hoặc địa điểm đó.

Phân cấp, phân quyền trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

Ở Việt Nam, vấn đề phân cấp là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của quá trình cải cách nền hành chính nhà nước. Phân cấp quản lý có thể hiểu là vấn đề chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước, các bạn ngành Trung ương và địa phương. Theo Từ điển Luật học, phân cấp quản lý được định nghĩa là “Chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện thường xuyên, lâu dài, ổn định trên cơ sở pháp luật…

Lễ Hội Hoa Ban: Nét đẹp văn hóa vùng núi Tây Bắc Việt Nam

Lễ hội Hoa Ban là một trong những sự kiện văn hóa đặc sắc của Việt Nam, phản ánh sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người, giữa các giá trị truyền thống và sự phát triển hiện đại. Với vẻ đẹp thuần khiết của hoa ban, cùng với những hoạt động văn hóa phong phú, lễ hội Hoa Ban hứa hẹn sẽ tiếp tục là một điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể

Quản lý nhà nước với tính chất là một hoạt động quản lý xã hội. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, là hoạt động chấp hành và điều hành có tính tổ chức chặt chẽ, được thực hiện trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.

Mối quan hệ giữa các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

Sự tập trung vào di sản văn hóa vật thể trong luật pháp và chính sách thường phải trả giá cho những mối quan hệ liên kết và không thể tách rời của các yếu tố vật thể và phi vật thể. Chẳng hạn, đối với việc xây dựng một ngôi nhà và bảo vệ một hiện vật nghi lễ cụ thể thì dễ dàng hơn nhiều so với việc nhận biết và nhận diện một ý tưởng, hay một hệ thống tri thức. Với di sản văn hóa vật thể, một cách dễ dàng hơn để nhận biết cái mất đi, hay sẽ bị hư hỏng.
Top