banner 728x90

Ghe Ngo - tài sản văn hóa cộng đồng quý giá của người Khmer Nam Bộ

03/06/2024 Lượt xem: 2516

 

Lễ hội đua ghe ngo của cộng đồng người Khmer

Ghe Ngo cùng với dàn nhạc ngũ âm là tài sản văn hóa sinh hoạt cộng đồng, tôn giáo quý giá và độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer miền Tây Nam Bộ. Không có chiếc ghe nào có chiều dài, trọng lượng, trang trí hoa văn tinh xảo, có giá trị lớn và được nhiều người chèo như chiếc ghe Ngo.

Đối với đồng bào dân tộc Khmer, ghe Ngo là một sản phẩm văn hóa, tinh thần có giá trị lớn nên luôn luôn được bảo quản và cất giữ ở chùa. Tại khuôn viên chùa, người ta xây một trại kiên cố có mái che, vách chống mưa, nắng rồi cho ghe Ngo vào bên trong, được kê cao cẩn thận.

Ghe Ngo - phương tiện sử dụng trong lễ hội đua ghe ngo

Ghe Ngo được đóng hoàn toàn từ gỗ cây sao vì gỗ này có tính đàn hồi lớn, giúp chiếc ghe Ngo bơi nhanh khi di chuyển. Trung bình mỗi chiếc ghe Ngo dài từ 28 đến 30 m, vì vậy người ta dùng 5 miếng gỗ sao dài 15m ghép lại làm thân ghe, 2 đầu ghe làm bằng gỗ sao nguyên khối, mỗi khối dài 7,5 m được đẽo cho nhọn và cong. Phía bên trong thân ghe, các mảnh gỗ này nối với các thanh gỗ cong bằng đinh, vừa tạo hình thân vừa làm chỗ ngồi cho 50 vận động viên bơi ghe. Phía bên ngoài sẽ trải qua 2 giai đoạn để làm thân ghe liền khít và không thấm nước. Giai đoạn “xẩm bố”, các mối nối giữa các mảnh gỗ sẽ được người thợ dùng dây bố khít vào các khe hở rồi dùng búa đóng chặt chúng vào trong, người thợ ở cộng đoạn “trét chay” sẽ dùng bột chay (một loại bột khô, mịn) trộn với dầu rồi trét khít vào các khe hở. Hoàn thành xong 2 giai đoạn này, thân ghe sẽ liền khít và hoàn toàn không thấm nước. Giai đoạn tỉ mỉ và tốn công nhất là trang trí bên ngoài thân ghe ngo. Toàn thân ghe ngo được vẽ hoa văn với các màu đặc trưng gồm đỏ, xanh, vàng, cam, đen, trong đó hoa văn ở đầu và đuôi ghe là được gọi là “đọt hoa văn” với những hình trang trí hoa, lá cách điệu nhỏ, nhọn, phần trang trí ở thân ghe ngo được gọi là “lá hoa văn” với những hình hoa, lá to, tròn. Sau khi làm xong ghe, người thợ bắt đầu làm “đòn dong” hay còn gọi là “cần câu” gồm 2 cây tràm lớn nhiều năm tuổi, mỗi cây dài 10 m, được chọn từ những cây tràm to, tròn và cong, một cây nằm từ giữa thân ghe ra đầu ghe, cây kia nằm ở hướng ngược lại, 2 cây “cần câu” này có tác dụng giữ nhịp và tạo độ nhún cho ghe Ngo.

Theo truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, đua ghe Ngo được tổ chức vào lễ Ok Om Bok (lễ cúng trăng), đua ghe nhằm mục đích cầu mưa thuận gió hòa, đủ nước để mùa màng được tươi tốt. Hiện nay, đua ghe Ngo cũng được tổ chức thành giải thể thao cấp quốc gia, khu vực quy tụ nhiều đội ghe Ngo ở các tỉnh, thành tham dự.

Mỗi ghe Ngo có một đôi đua nam hoặc nữ gồm 85 người, trong đó có 50 người bơi chính thức. Đội đua này tập hợp những người dân Khmer khỏe mạnh, yêu thích bơi ghe Ngo và được huấn luyện bởi một người nhiều kinh nghiệm. Trước mỗi đợt đua, đội ghe Ngo được tập hợp và tập trước trên giàn ở cạnh bờ sông, sau đó tập chính thức với ghe. Vào trận đua, 48 vận động viên cầm mái chèo ngồi thành 2 hàng song song, người thuận tay trái ngồi ở bên trái, người thuận tay phải ngồi bên phải, một người có uy tín trong cộng đồng sẽ ngồi ở phía đầu ghe làm nhiệm vụ chỉ huy, điều chỉnh hướng, người huấn luyện viên ngồi ở đuôi ghe thổi còi để các vận động viên chèo theo nhịp.

Để ghe Ngo di chuyển nhanh và đúng hướng cần có sự phối hợp khéo léo của 50 người ngồi trong ghe, trong đó các vận động viên vừa giữ đúng nhịp theo còi của huấn luyện viên, vừa đúng hướng và đúng tốc độ theo sự điều khiển của người chỉ huy.

Tham gia đua ghe Ngo là một niềm vui và vinh dự lớn của người dân trong các phum, sóc, vì vậy ngoài đội đua hơn 80 người thì nhiều người dân trong vùng cũng đi theo đội ghe Ngo để thưởng thức các trận đấu và cổ vũ đội nhà.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện có 15 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer nằm ở các vùng có đông đồng bào dân tộc Khơ me, trong đó có 5 chiếc ghe Ngo được bảo quản ở các chùa tại huyện Long Mỹ, thành phố Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang. Đây là những tài sản có giá trị văn hóa, tinh thần quý giá đối với đồng bào dân tộc Khmer cũng như của vùng đồng bằng Sông Cửu Long./.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top