banner 728x90

Chim Hạc trong thờ cúng tâm linh

24/05/2024 Lượt xem: 2656

Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, trong tâm thức của mỗi người con đất Việt luôn muốn tìm về những chốn tâm linh, như: đình, đền, chùa, miếu, lăng tẩm, nơi thờ tự … để thắp nén tâm hương tri ân các bậc tiền nhân. Tại những nơi này, chúng ta được chiêm ngưỡng những đồ án trang trí vô cùng đẹp mắt. Trong muôn vàn hình thù độc đáo ấy, nổi bật nhất là hình các “linh vật" rất quen thuộc trong dân gian, đó là nhóm "Tứ linh", gồm: Long (rồng), Lân, Quy (rùa), Phượng và thêm bốn loài khác là Lý Ngư (cá chép), Bức (con dơi), Hạc, Hổ, gọi chung là “bát vật” được các nghệ nhân dân gian thể hiện qua nghệ thuật trang trí rất sinh động và linh thiêng. Đặc biệt, chúng ta thấy rất nhiều tranh, ảnh, điêu khắc, đồ thờ cúng...có hình ảnh chim Hạc.

Hạc, Rùa đều là những linh vật được con người yêu quý và mang nhiều đức tính tốt. Hình tượng chim Hạc thiêng thường gắn liền với Rùa. Chim Hạc đầu đội công lý, mắt biểu trưng cho mặt trời và mặt trăng, cánh là gió, lông là cây cỏ, còn chân có ý nghĩa là đất. Bởi vậy, đây là một linh vật biểu tượng cho không gian, cho bầu trời và lực dương. Ngoài ra, những con chim Hạc được thiết kế với chiếc mỏ há ra đang ngậm viên ngọc thể hiện sự trong sáng, còn biểu trưng cho đạo pháp.

 Còn Rùa thuộc phần âm, biểu trưng cho đất. Đó vẫn là tư duy nông nghiệp, âm dương đối đãi tồn tại từ bao đời nay ở dân tộc Việt ta. Cho nên, hình ảnh chim Hạc đứng trên lưng Rùa về mặt nào đó, chính là biểu tượng của sự trường tồn.

Theo truyền thuyết, Rùa và chim Hạc là 2 loài vật rất thân nhau. Rùa – loài vật dưới nước, biết bơi. Chim Hạc loài vật trên trời, biết bay. Khi trời làm mưa lũ cả một vùng rộng lớn, chim Hạc không biết bơi, Rùa đã cho chim Hạc cưỡi lên lưng, giúp đưa chim Hạc di chuyển khỏi vùng lũ tới vùng đất cao, khô ráo. Ngược lại, khi hạn hán chim Hạc giúp Rùa đi tìm tới các ao hồ. Như vậy hình ảnh đôi chim Hạc cưỡi lưng Rùa còn thể hiện cho lòng chung thủy, sự tương trợ lẫn nhau vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên.

Hạc là linh vật được con người yêu quý và mang nhiều đức tính tốt

Chim Hạc đồng thờ còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những mong ước phát triển của con người được thể hiện qua hình dáng cao lớn, mỏ dài, nhọn, như mũi tên của sự vận động. Chim Hạc ngậm hoa sen tượng trưng cho sự giác ngộ, vươn tới ánh sáng, thoát khỏi u tối.

 Không những thế với một nước gắn liền với nền công nghiệp lúa nước như Việt Nam, hình ảnh chim Hạc vô cùng gần gũi gắn liền với sự chịu thương, chịu khó của con người Việt Nam. Hình tượng chim Hạc còn mang đến ý nghĩa về cuộc sống thanh cao, viên mãn. Chim Hạc là loài chim có tuổi thọ kéo dài, sống khỏe mạnh trong mọi hoàn cảnh và thời tiết nên thường mang đến ý nghĩa trường thọ. Việc sử dụng chim Hạc trên ban thờ cũng giống như một lời chúc bình an, sức khỏe cho các thành viên trong gia đình. Đây cũng là cách người Việt nhớ đến cội nguồn, gốc rễ, của mình.

Bên cạnh đó, đôi chim Hạc thờ còn được sử dụng như một liệu pháp để “trấn phong thủy”, ngăn chặn tà khí, điều xấu vào nhà. Đôi chim Hạc được đặt ở vị trí liên kết tâm linh huyền bí với thế vững chắc. Với mong ước gia đình luôn hạnh phúc, hòa thuận để vượt qua mọi chuyện khó khăn trong cuộc sống.

Từ thời kì các triều đại phong kiến, chim Hạc đã  được xem là biểu tượng của sự nghĩa hiệp, quân tử, ưu tú… Vì lý do này, triều phục của các quan sẽ thêu hình chim Hạc để biểu tượng cho cốt cách của người sĩ phu “đầu đội trời, chân đạp đất”. Trong nghệ thuật tạo hình, chim Hạc thường được quan sát đầu tiên, người ta nhìn hình ảnh của nó mà thưởng thức, mà đánh giá tổng thể nội dung và hàm ý của bức họa.

Trong nghệ thuật chạm khắc, chim Hạc cũng thường xuất hiện gắn liền với cây Tùng nên được gọi là Hạc Tùng, nó trở thành biểu tượng cho sự cao sang - an lạc, khí chất trường thọ, bản lĩnh trước nỗi trầm luân. Khi người ta khắc họa Tùng và chim Hạc thì bức tranh lập tức minh chứng cho chí khí, cốt cách của người quân tử, là sự trường tồn bền vững, là khao khát sải cánh giữa không trung, và là dũng khí đương đầu với gian truân, thử thách.

Trong hình tượng trang trí, chim Hạc có kích thước lớn, cao với ước mong phát triển, thân chim Hạc hình khum, tượng trưng cho bầu trời, chân cao như cột chống trời.

Trải qua bao đời, nghệ thuật trang trí các công trình kiến trúc tâm linh được thể hiện rất phong phú, sinh động. Hình tượng các con vật, hoa lá, cỏ cây, tứ linh, bát vật ... được cách điệu thành các đồ án trang trí, vừa thích hợp với bố cục trang trí của không gian kiến trúc truyền thống, có tính thẩm mỹ cao, vừa mang sự linh thiêng trong tín ngưỡng văn hóa dân gian, đậm nét bản sắc văn hóa Việt ngàn năm văn hiến.

Ban Nghiên cứu văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top