banner 728x90

An Nam tứ đại khí

03/07/2024 Lượt xem: 4689

An Nam tứ đại khí (còn gọi là Nam Thiên tứ bảo khí hay Nam Thiên tứ đại thần khí) là những báu vật linh thiêng có thể chấn hưng quốc gia, quyết định đến sự phồn vinh, suy vong của dân tộc của Việt Nam. Như Nhật Bản có “Tam Chủng thần khí”, Trung Quốc có “Trấn Quốc chi bảo”, Triều Tiên có “Thiên Phù tam ấn”, “tứ đại khí” của người Việt gồm: Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Tháp Báo Thiên, Chuông Quy Điền và Vạc Phổ Minh - 4 công trình nghệ thuật dưới thời Lý, Trần. Cả 4 đều được đúc bằng đồng.

Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm

Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Ðông Triều, Quảng Ninh) đứng đầu trong “Tứ đại khí”, là pho tượng đồng do sư Nguyễn Minh Không cho đúc vào thời Lý. Tượng cao 6 trượng (khoảng 20m), trọng lượng cụ thể đến nay không có tài liệu nào ghi rõ; bên trong lưu giữ 18 viên xá lợi của các vị bồ tát Đại Việt, lại thêm 360 viên đá linh khí từ các đền thờ chư thánh và anh hùng của Đại Việt.

Pho tượng bị giặc Minh xâm lược cướp đi, ngôi chùa bị phá hủy. Đến đầu thời Lê, chùa Quỳnh Lâm được dựng lại, nhưng đến đời Thiệu Trị (1841-1847) lại bị đốt trụi.

Đỉnh tháp Báo Thiên

Tháp Báo Thiên, tên đầy đủ là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp được xây năm 1057 ở Chùa Báo Thiên. Chùa Báo Thiên, tên đầy đủ là Sùng Khánh Báo Thiên từng là một ngôi chùa tráng lệ bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, được xây dựng vào năm 1056, dưới triều đại của Hoàng đế Lý Thánh Tông. Chùa tọa lạc tại thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương (xưa gọi là phường Báo Thiên), gần hồ Lục Thuỷ (hồ Gươm). Khu vực này ngày nay là phố Nhà Chung, Hà Nội.

Tháp Báo Thiên cao 20 trượng, có tất cả 12 tầng. Thân tháp xây bằng gạch hoa khắc chữ “Lý gia đệ tam đế, Long thụy Thái Bình tứ niên tạo”, tức là "Đúc năm thứ tư niên hiệu Long thụy Thái Bình đời vua thứ ba triều nhà Lý". Đỉnh tháp đúc bằng đồng khắc ba chữ “Đao Ly Thiên” tỏ ý tưởng của đấng tối cao xông lên tận trời thẳm, trên có tượng người tiên bưng mâm ngọc hứng móc ngọt làm thuốc cho vua.

Năm 1258, một trận bão đã làm ngọn tháp bị đổ. Sau khi được trùng tu, tháp lại bị sét đánh sạt mất hai tầng về góc bên đông vào năm 1322. Đến năm 1406 (84 năm sau khi được trùng tu lần thứ hai) đỉnh tháp lại bị đổ. Thời thuộc Minh (1414-1427), quân Minh đã cho phá tháp để chế súng. Chỗ tháp bị phá sau đó được đổ đất thành gò cao để dựng đàn tràng.

Chuông Quy Điền

Chuông Quy Điền được đặt tại chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) ở Hà Nội – ngôi chùa được xây theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ vào năm1049.

Đến năm 1080, vua Lý Nhân Tông cho xuất hàng vạn cân đồng để đúc một quả chuông lớn dự định đặt trong khuôn viên của chùa cùng với một tòa tháp chuông cao 8 trượng (khoảng 24m). Chuông được đúc xong nhưng vì kích thước quá lớn, chuông đánh không kêu nên đành bỏ xuống một thửa ruộng, ruộng này có nhiều rùa, do đó có tên là chuông Quy Điền.

Năm 1426, khi bị quân Lê Lợi vây thành Đông Quan, tướng Minh là Vương Thông đã phá chuông Quy Điền lấy đồng đúc vũ khí.

Vạc Phổ Minh

Vạc Phổ Minh được đúc vào tháng 02/1262 đời Trần Thánh Tông, nhân dịp Trần Thái Tông (lúc đó là Thượng hoàng) về chơi Tức Mặc. Tại đây, Trần Thái Tông đã ban yến cho dân làng, đổi Tức Mặc làm phủ Thiên Trường, dựng cung Trùng Quang để các vua sau khi nhường ngôi về ở; dựng cung Trùng Hoa cho vua mới khi đến chầu Thượng hoàng thì ngự ở đó, phía Tây cung Trùng Quang dựng chùa Phổ Minh. Tại đây cho đúc một chiếc vạc lớn và khắc bài minh vào vạc.

Theo mô tả, vạc nặng ba vạn cân, miệng vạc dày và rộng đến nỗi hai người có thể chạy nhảy và đi lại trên đó, bên ngoài có hình rồng uốn lượn và hình chim âu đang bay, trên thành có 100 lỗ hình quả trứng tượng trưng cho con Rồng cháu Tiên. Trong mỗi lỗ lại đặt một tượng rồng vàng để tích tụ linh khí của dòng dõi Bách Việt. Bệ vạc khắc tên tất cả các vị vua của dân tộc, từ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, cho đến vua Lý Thánh Tông.

Cùng với chuông Quy Điền, năm 1426, khi bị quân Lê Lợi vây ở Đông Quan, Vương Thông đã cho phá vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí./.

Ban Nghiên cứu Văn hóa

 

 

Tags:

Bài viết khác

Lễ hội chùa Ông (Đồng Nai): Giữ hồn di sản, kết nối cộng đồng Hoa – Việt

Ngày 26-2 (nhằm mùng 10 tháng Giêng), Lễ hội chùa Ông lần XI năm 2026 tại Biên Hòa bước vào cao điểm với nghi thức Nghinh thần rộn ràng trên sông và các tuyến phố trung tâm, thu hút hàng ngàn người dân, du khách tham gia. Diễn ra trong 5 ngày (từ 25-2 đến 1-3), lễ hội không chỉ tái hiện những nghi lễ truyền thống đặc sắc của cộng đồng Hoa – Việt mà còn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo điểm nhấn du lịch tâm linh đầu xuân của Đồng Nai.

Linh tượng ngựa trấn giữ chiều sâu tâm thức Việt

Trong dòng chảy thâm trầm của di sản Việt Nam, giữa những mái đình rêu phong, những cột chùa nâu trầm, có những linh tượng lặng lẽ nhưng uy nghi đứng bên những ban thờ - đó là Ông Ngựa.

Nét tinh túy trong ẩm thực Tết Việt

Tết Nguyên Đán truyền thống của người Việt là dịp lễ quan trọng nhất trong năm, được người Việt đón chào từ Tết Táo Quân (23 tháng chạp ÂL) và kéo dài đến ngày cúng Đất đai (Mồng 9 tháng Giêng). Giữa những ngày Tết có bao nhiêu lễ cúng khác, từ Tất niên (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch), lễ rước ông bà, cúng Giao thừa, đến lễ Khai hạ (mồng 7 tháng Giêng)…

Chùa Ông Bắc (Bắc Đế Miếu) – Di sản lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại Long Xuyên

Chùa Ông Bắc, tên gọi chính thức là Bắc Đế Miếu, là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của cộng đồng người Hoa tại phường Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ngôi miếu mang giá trị đặc biệt về lịch sử hình thành, kiến trúc truyền thống và đời sống tín ngưỡng, phản ánh rõ nét quá trình định cư, cộng cư và giao thoa văn hóa Hoa – Việt tại vùng đất Nam Bộ.

Đàn ching kram trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên

Đàn ching kram, còn gọi là chiêng tre, không chỉ là một nhạc cụ truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa, kết tinh đời sống tinh thần của người Ê Đê nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung. Với các nghệ nhân, ching kram không đơn thuần là phương tiện diễn tấu âm nhạc, mà là cách để kết nối với cội nguồn, với thiên nhiên và những giá trị văn hóa được truyền qua nhiều thế hệ.

Nước mắm – tinh hoa hồn biển trong văn hóa Việt

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, nguồn hải sản phong phú cùng khí hậu gió nắng đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa. Trong điều kiện tự nhiên ấy, từ rất sớm, cư dân ven biển đã sáng tạo nên nước mắm – loại gia vị mặn mà, đậm đà, kết tinh tinh hoa của biển cả và trí tuệ dân gian Việt Nam.

Văn hóa Đông Sơn – Nền tảng rực rỡ của văn minh Việt cổ

Văn hóa Đông Sơn là một trong những đỉnh cao tiêu biểu của văn minh Việt cổ, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa bản địa của cư dân người Việt trong thời kỳ tiền – sơ sử. Trên nền tảng văn hóa này, các nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc như Văn Lang thời các Vua Hùng và Âu Lạc dưới triều An Dương Vương đã được hình thành, mở đầu cho tiến trình dựng nước lâu dài của dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật múa Khmer – Di sản văn hóa Tây Ninh

Tây Ninh là vùng đất hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa, nơi các giá trị truyền thống của cộng đồng các dân tộc vẫn được gìn giữ và phát huy trong đời sống đương đại. Trong bức tranh văn hóa đa sắc ấy, nghệ thuật múa truyền thống của đồng bào Khmer, tiêu biểu là múa chằn và múa Apsara, giữ vai trò quan trọng, góp phần làm nên bản sắc riêng của địa phương.
Top