banner 728x90

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ Phủ

28/08/2024 Lượt xem: 3079

Thần linh chỉ trở thành linh thiêng khi được con người tín thờ, ngưỡng vọng, khi thần linh đó nảy sinh từ ngay chính nhu cầu và nguyện vọng thiết thân của con người, trong một hoàn cảnh xã hội nhất định của con người. Đừng đi tìm sự xác thực lịch sử ở các hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng vì ở đó chỉ có sự xác tín. Mà với con người nhiều khi sự xác tín còn cao hơn và quan trọng hơn sự xác thực.

Những tư liệu thư tịch ghi chép về tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ Lên đồng còn lại quá ít ỏi. Trong “Thiền Uyển tập anh” nói về nhà sư Khánh Hỷ thời Lý Thần Tông (trụ trì ở chùa Từ Liêm, mất năm 1135), khi cùng thầy đến nhà thí chủ, Khánh Hỷ hỏi thầy rằng “ý nghĩa của Tố Thiền là thế nào mà thầy đến nhà dân nghe đồng cốt?”. Bản tịch trả lời “Hỏi như vậy chẳng hóa ra đồng cốt giáng thần à?”.

Điện thờ Tam phủ

Tư  liệu mô tả ít ỏi về “đồng cốt” trong “Thiền Uyển tập anh” nêu trên thật khó xác định đó là tục “đồng cốt” nói chung (với các dạng “đồng thiếp”, “đồng nồi”, “đồng cối”…) hay là tục Lên đồng (cũng gọi là đồng cốt) của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ. Theo quan niệm khá phổ biến hiện nay thì tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ với nghi thức Lên đồng chỉ xuất hiện từ sau thế kỷ XV với sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Ca dao thời Lê (hậu Lê) mà sau này được ghi lại trong “Nam Phong giải trào” cũng có những câu nhắc tới hiện tượng đồng cốt:

“Bà cốt đánh trống long bong

Nhảy lên nhay xuống cái ong đốt…”

Thượng Kinh ký sự thời Lê của Lê Hữu Trác có kể lại một buổi ngồi đồng. Năm 1781, ông từ Thanh Hóa ra Thăng Long, qua xã Kim Khê nghỉ lại và được mời dự buổi lên đồng: “Tôi nghỉ ở trạm Kim Khê quan văn thư làm lễ vào yết miếu làng ấy, ông có đặt một tiệc hát và cho mời tôi thấy một “cô đồng” đang hầu giá nhà Thánh vua đảo vừa nói lảm nhảm. Có người bảo tôi rằng Thánh Mẫu ở đây linh ứng lắm, cụ vào kinh, có muốn việc gì thì cứ kêu ngài. Tôi trả lời rằng, phàm ai cũng cần lấy cái sở đắc, chứ có ai cầu cái sở thất, bụng tôi không nguyện đắc cái gì thì cầu làm chi. Cô đồng nghe tủm tỉm cười, quan văn thư cũng trông tôi cả cười”.

Những tư liệu trích dẫn trên từ thế kỷ XII (thời Lý) đến thế kỷ XVIII (hậu Lê) cho ta thấy ở người Việt có tục “đồng cốt”, đặc biệt thời hậu Lê (qua Nam phong giải trào), còn mô tả kỹ hơn là “Bà cốt” (Bà đồng) vừa nhảy đồng vừa gõ trống. Còn trong tư liệu mô tả của Lê Hữu Trác (1781) thì thực sự là một cuộc Lên đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ. Cũng cần nói thêm rằng việc bà cốt vừa nhảy đồng vừa gõ trống là hiện tượng ngày nay không thấy nữa, vì gõ trống, đàn hát bây giờ là do cung văn đảm nhiệm. Tuy nhiên, việc bà đồng vừa nhảy vừa múa vừa gõ trống thì lại là hiện tượng phổ biến hiện nay của các thầy Shaman của các dân tộc trên thế giới. Như vậy, ít nhất cho tới thời hậu Lê (Lê Chiêu Thống) hiện tượng bà đồng vừa nhảy múa vừa chơi nhạc (gõ trống) vẫn phổ biến ở người Việt.

Tín ngưỡng thờ Tam Tứ Phủ của người Việt

Theo sự tích và huyền thoại được ghi chép trong bi ký và sách Hán Nôm, đặc biệt là sách Vân Cát thần nữ của nữ sĩ Hồng Hà Đoàn Thị Điểm thì thân chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là Công chúa Liễu Hạnh con vua Ngọc Hoàng do mắc lỗi đánh vỡ chén ngọc trong Hội Vườn đào nên đã 3 lần giáng trần. Lần thứ nhất, từ năm 1434-1473 Công chúa Liễu Hạnh giáng sinh vào nhà họ Phạm tại thôn Vỉ Nhuế, xã Trần Xá, huyện Đại An (Ý Yên) tỉnh Nam Định. Lần thứ hai, từ năm 1557-1577, giáng sinh vào nhà họ Lê tại làng Vân Cát, lấy chồng họ Trần (xã An Thái, huyện Thiên Bản, tức Vụ Bản, Nam Định ngày nay). Lần thứ ba, từ năm 1609-1610, công chúa giáng trần vào nhà học Hoàng lấy chồng là Mai Sinh ở làng Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Với ba lần giáng sinh (tam hóa tam sinh) Tiên Chúa Liễu Hạnh đều hiện thân là người phụ nữ tài danh, công dung ngôn hạnh, giúp dân mở mang nghề nghiệp, xây chùa đi tu, khi hóa được nhân dân khắp nơi thờ phụng để ghi nhớ công đức của Tiên Chúa.

Sau ba lần “Tam sinh tam hóa” kể trên, Liễu Hạnh công chúa chu du khắp nơi. Từ Lạng Sơn, Tây Hồ (Hà Nội), Đèo Ngang, Phố Cát, Sòng Sơn…. đã từng chống lại các pháp sư dòng Nội Đạo của vua Lê – chúa Trịnh, sau cùng được Phật Quan Âm giáo hóa quy y, vua Lê phong Thánh, trở thành vị thần chủ Mẫu Tam, Tứ phủ.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top