banner 728x90

Nguồn gốc của Thành Hoàng

16/06/2024 Lượt xem: 2881

Thờ cúng Thành hoàng là tín ngưỡng rất phổ biến ở các làng xã người Việt và ở một số dân tộc thiểu số khác, như Mường, Tày, tuy mức độ kém phổ biến hơn. Có thể nói, nếu thờ tổ tiên là tín ngưỡng chính của cộng đồng gia tộc thì thờ Thành hoàng là tín ngưỡng chính của cộng đồng làng. Thiếu hiểu biết về thờ Thành hoàng làng xã sẽ hạn chế đối với sự hiểu biết dân gian nói chung và tín ngưỡng làng xã nói riêng, đối với việc tìm hiểu con người và văn hóa của người nông dân Việt Nam.

Đình làng Thọ Bình thờ Thành Hoàng Chử Đồng Tử

Đã có nhiều nhà nghiên cứu bỏ công sức tìm kiếm từ nguyên của chữ “Thành hoàng” và đưa ra định nghĩa về loại tín ngưỡng này. Một điều không thể chối cãi là “Thành hoàng” là tên gốc từ Hán: “Thành” là cái thành, còn “Hoàng” là cái hào đào sâu bao quanh thành, tức vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành trì của Trung Quốc. Sách Lễ nghĩa thông khảo của Trung Quốc nói “Thành hoàng là thần bảo vệ Thành. Vì vậy đã là Thành dù to hay nhỏ người Trung Quốc đều thờ Thành hoàng”.

Như vậy, cùng mang tên Thành hoàng nhưng ở Trung Quốc là vị thần của Thành trì, Thành thị, mà nổi tiếng nhất là Thành hoàng của Thượng Hải, phổ biến nhất ở Trung Quốc từ thời Đường – Tống; còn ở Việt Nam thì Thành hoàng là vị thần của mỗi làng xã, trong khi đó các làng, thôn của Trung Quốc chỉ thờ các Thổ thần.

Các nhà nghiên cứu của nước ta cũng đã để công khảo cứu tên “Thành hoàng” được dùng ở nước ta từ bao giờ. Ở Trung Quốc người ta truy tìm gốc gác vị Thành hoàng đầu tiên ở sách Chu Lễ là Thùy Dung (hay Chúa Dung), theo quan niệm dân gian là vị Hỏa thần, luôn trú ngụ trên tường và cửa thành, nhưng việc cúng lễ Thành hoàng và phong Vương cho Thành hoàng là từ thời Hậu Đường (934) và tới thời nhà Minh thì chính thức hóa việc cúng tế Thành hoàng ở các phủ, châu, huyện. Còn ở nước ta, sách đầu tiên nói đến Thành hoàng là Việt điện u linh, đó là Tô Lịch với tướng hiệu “Đô phủ Thành hoàng thần quân” của thành Đại La, lúc đó là trị sở của phủ đô hộ nhà Đường tại Việt Nam. Cũng phải ghi nhận rằng, việc phong thần này là theo mô thức Thành hoàng của Trung Quốc và do các quan đô hộ Trung Quốc gia phong. Đó là một kiểu Thành hoàng Trung Quốc được áp đặt ở Việt Nam và sau này nhà nước phong kiến Việt Nam tiếp tục gia phong và thờ phụng. Đặc biệt là sau khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long đã phong thần Tô Lịch là Quốc Đô Thăng Long Thành hoàng Đại Vương. Đến đời Trần thì với mỹ hiệu: Bảo Quốc Trần linh định bang, Quốc đô Thành hoàng Đại Vương. Đến triều Lê, năm 1442, vua Lê Nhân Tông cho lập đền thờ Đô Đại Thành hoàng./.

Ban Nghiên cứu Tôn giáo

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top