banner 728x90

Ký ức dân gian và tín ngưỡng thờ thần cọp ở Nam Bộ

12/05/2024 Lượt xem: 3195

Trong những buổi đầu các bậc tiền nhân “mang gươm đi mở cõi” vùng đất Nam Bộ, họ phải đối mặt với nhiều loại thú dữ như cọp ở trên bờ, cá sấu ở dưới sông. Chính bởi thế, trong đời sống tâm linh, ngoài tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên, các vị nhiên thần, nhân thần, người dân Nam Bộ còn có tục thờ thần cọp tại các ngôi đình, miếu, đền.

Nhiều ngôi đình làng ở Nam Bộ đều có ban thờ thần cọp

Người dân Nam Bộ vẫn lưu truyền trong dân gian nhiều câu chuyện, ký ức về loài cọp gắn liền với tiến trình con người khai khẩn vùng đất mới. Đó là những câu ca dao nói về vùng đất Nam Bộ xưa, với nét hoang sơ, rậm rạp, u tịch, sông sâu, thú dữ. Trong đó, loài cọp và cá sấu chính là mối đe dọa thường xuyên cản trở công cuộc khai khẩn lập ấp và tính mạng con người.

Từ thế kỷ XVII đến XVIII, ở vùng đất Nam Bộ cọp nhiều vô kể, chúng sống rải rác ở khắp nơi, ở các cánh rừng ngập mặn tại các cửa của sông Tiền, sông Hậu, kể cả những nơi đã được khai hoang khá sớm như Sài Gòn, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long... Thức ăn chủ yếu của cọp là heo rừng, nai và các loài ăn cỏ khác. Nhưng dần dần vùng rừng rậm bị khai phá, nguồn thức ăn của cọp ngày càng khan hiếm nên cọp mò về những nơi có dân cư sinh sống để bắt heo, vồ người.

Chính vì quá khiếp sợ trước sự hung dữ của loài cọp, nên người dân Nam Bộ ai cũng tìm cách diệt cọp để trừ họa. Trong dân gian đã xuất hiện nhiều truyện kể ly kỳ về những tấm gương võ nghệ cao cường, dũng cảm, mưu trí diệt cọp như, hai thầy trò nhà sư Hồng Ân và Trí Năng, Bảy Giao, Chín Quỳ, ông Yến, ông Tăng Chủ...

Ở Nam Bộ từ xưa, khi vùng nào đó diệt được cọp, người dân đều vui mừng khôn xiết, nhưng ngay sau đó họ đều lập miếu thờ thần cọp, thậm chí có nơi còn đưa xác cọp về phục chế, bảo quản để thờ. Người dân Nam Bộ không ai dám gọi cọp là “con” mà gọi bằng ông “Thầy”, ông “Hổ”, ông “Khái” hoặc “Hương quản”.

Chính vì xem cọp là biểu tượng của quyền lực mà người dân Nam Bộ lập miếu thờ thần cọp với những danh xưng cao nhất như: “Sơn quân chi thần”, “Sơn lâm đại tướng quân”, “Sơn quan chú động”, “Chúa xứ sơn lâm”, “Mãnh Hổ”, “Thần Hổ” “Thần Cọp”, “ông Thầy”, “ông Cả”, “Ngài”, “ông Ba Mươi”, “Hương quản”… Trước các ngôi đình thường có những bức bình phong, hương án trấn cửa đình được chạm trổ, đắp nổi tượng, phù điêu hoặc vẽ thể hiện hình tượng vị chúa tể rừng xanh với dáng vẻ rất uy nghi, dũng mãnh.

​​​​​Bức bình phong có hình thờ thần cọp ở một ngôi đình

Dân gian Nam Bộ còn có tục lệ là vào ngày mồng ba tết Nguyên đán, sau khi cúng xong, người ta thường dán trước cửa nhà một mảnh giấy hồng điều có vẽ hình cọp với dòng chữ Hán “Sơn Lâm đại tướng quân” với lòng mong muốn Thần Cọp sẽ trấn giữ không cho những tà khí, ma quỷ vào nhà.

Các đình làng ở Nam Bộ phần lớn đều có miếu thờ thần cọp, tọa lạc về phía trái sân đình, với tước “Sơn Lâm chúa tể”. Phong tục thờ cúng ở đình làng Nam Bộ từ xưa đã mặc định “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” hoặc thờ Sơn quân. Đây là một quan niệm về thuật phong thủy xem thế đất của đình là mạch quý, với bên tả có Thanh Long bảo vệ, bên hữu có Bạch Hổ trấn giữ nên sẽ không sợ có yêu ma quỷ nào xâm phạm.

Người Nam Bộ xưa cũng quan niệm, Bạch Hổ là Thần (Thần Cọp), hổ tu thành tiên, không ăn thịt, không hại người, ngược lại còn phù trợ cho dân làng. Nhiều nơi trong ngày lễ cúng đình, ngoài việc cúng tế Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ, người ta còn tổ chức nghi lễ riêng cúng tế thần cọp gọi là tế sơn quân, nghĩa là tế thần cọp.

Lễ vật cúng thần cọp gồm mấy lá sớ gói trong giấy hồng thường gọi là hồng đơn và một thủ dĩ (đầu heo) để sống. Sau khi trình cúng tại miếu, dân làng sẽ đem lễ vật lên một ngã ba hay ngã tư đường rừng đặt đó. Nếu qua đêm, hôm sau thủ dĩ và các tờ sớ mới viết mất, thì dân làng tin thần cọp chấp nhận lễ cúng và về nhận tờ sớ. Nếu lễ vật vẫn còn nguyên thì xem như thần cọp từ chối không nhận, sớ phải đốt đi, thủ dĩ phải đem chôn.

Tín ngưỡng thờ cúng thần hổ trong các ngôi đình, đền, miếu là một trong những nét đẹp văn hóa mang tính nhân văn của người Việt ở Nam Bộ và cho đến ngày nay vẫn được duy trì và còn nguyên giá trị về tâm linh.

Ban nghiên cứu văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Ngựa trong đời sống dân gian

Ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống con người, vừa là phương tiện di chuyển, vừa là biểu tượng văn hóa dân gian. Trong lịch sử, ngựa đóng vai trò quan trọng trong giao thương, hành chính, quân sự và tín ngưỡng.

Lễ cúng tạ đất cuối năm: Nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh của người Việt

Lễ cúng tạ đất cuối năm là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh của người Việt. Đây không chỉ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh mà còn phản ánh nét đẹp văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng biết ơn của con người đối với các đấng bề trên đã che chở cho gia đình suốt một năm qua.

Bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng ông Công ông Táo?

Mỗi dịp cuối năm, cùng với việc chuẩn bị mâm lễ tiễn ông Công ông Táo về trời, nhiều gia đình Việt cũng tiến hành dọn dẹp, lau chùi bàn thờ để đón năm mới hanh thông, may mắn. Tuy nhiên, bao sái bàn thờ trước hay sau khi cúng Táo quân vẫn là băn khoăn của không ít người, bởi đây không chỉ là vấn đề phong tục mà còn liên quan đến ý nghĩa tâm linh và sự trang nghiêm của không gian thờ cúng.

Ngựa trong dân gian Việt Nam – biểu tượng lịch sử, văn hóa và khát vọng hanh thông

Trong hệ thống 12 con giáp của người Việt, con Ngựa (Ngọ) không chỉ là dấu mốc thời gian mà còn là một biểu tượng văn hóa – lịch sử giàu tầng nghĩa, gắn với hành trình dựng nước và giữ nước, với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và cả những quan niệm phong thủy, tử vi đã ăn sâu trong tâm thức dân gian. Nhân Tết Bính Ngọ, khi mùa xuân mở ra những hành trình mới, hình tượng con Ngựa lại trở về như một lời nhắc nhở về ý chí bền bỉ, tinh thần dấn thân và khát vọng vươn xa của người Việt.

Nhà thờ họ và từ đường trong đời sống văn hóa – tâm linh người Việt

Trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống bền vững và giàu ý nghĩa nhất. Đây không chỉ là hoạt động mang tính tâm linh mà còn thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn của con cháu đối với các thế hệ đi trước. Chính từ nền tảng ấy, nhà thờ họ và từ đường đã ra đời như những không gian thiêng, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.

Văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng trong đời sống cộng đồng.

Trong bức tranh đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng giữ một vị trí đặc biệt. Không chỉ là hệ thống niềm tin tâm linh, tín ngưỡng Tày – Nùng còn là môi trường tích hợp và sản sinh nhiều giá trị văn hóa, góp phần định hình bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.

Các nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục truyền thống quan trọng trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đây là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính và nhớ về cội nguồn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các nghi thức, nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên thường được thực hiện trong các dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ tổ, lễ cúng ông Công ông Táo, và nhiều dịp quan trọng khác. Dưới đây là một số nghi thức và nghi lễ phổ biến trong thờ cúng tổ tiên:
Top