banner 728x90

Hình tượng con khỉ trong văn hóa Việt Nam

17/07/2024 Lượt xem: 3726

Có lẽ từ khởi thủy vũ trụ, tạo hóa đã ban cho loài vật này những đặc tính tinh khôn, nhanh nhạy, giàu tình cảm như con người vậy. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, con Khỉ đã trở thành một hình tượng trong văn hóa Việt. Trong 12 con giáp, Thân là con Khỉ đứng hạng thứ 9 của 12 con vật trong Thập nhị Địa chi.

Tượng khỉ thời Lý

Tại tháp Chương Sơn của chùa Đọi Sơn (Duy Tiên - Hà Nam), một danh lam nổi tiếng thời Lý (thế kỷ XI - XII), đã tìm thấy pho tượng một thân và 4 đầu Khỉ khác nhau. Dáng Khỉ tháp Chương Sơn khá hiện thực, đầu rộng 6 cm, mắt tròn, mày cong, mồm mím và trán có điểm vài nếp nhăn, một tay vắt qua tai ôm lấy đầu. Phần thân cao 13,5 cm, hai chân gập lại co lên phía ngực theo kiểu ngồi bó gối, tay trái ôm lấy cổ chân trái. Trên các bức chạm khắc năm 1647 ở hành lang đá chùa Bút Tháp (Thuận Thành - Bắc Ninh) hình tượng Khỉ cũng xuất hiện sinh động.

Sở dĩ Khỉ trở thành hình tượng được điêu khắc trong chùa vì theo Phật thoại, nó là một đệ tử rất thành tâm đối với Đức Phật, đến nỗi quên cả nguy hiểm đe dọa tính mạng.

Trong văn hóa Phật giáo có câu “Tâm Viên ý Mã” (tâm luôn nhảy nhót như con Khỉ và ý thức, suy nghĩ chạy nhanh như con Ngựa). “Tâm viên ý mã’’ ở đây chỉ cái Tâm lăng xăng, buông lung, chạy theo “lục dục thất tình” của chúng sinh. Vậy muốn được thanh thản, không bị vướng vào vòng ô trọc, hệ lụy tầm thường thì mỗi cá nhân phải biết chế ngự “tâm ý” mình.

Ta có thể thấy, pho tượng Thiền sư Vạn Hạnh (đúc bằng đồng ở thời Lê - Nguyễn) thờ tại chùa Tiêu (Tương Giang, Từ Sơn - Bắc Ninh) đã thể hiện được công phu Thiền định cao siêu của một Thiền sư xuất sắc bậc nhất dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci), người lập ra thế hệ thứ 12 dòng Thiền Nam phương và cũng là vị cố vấn chính trị nổi tiếng hai triều Tiền Lê và Lý qua việc tạc ngài cưỡi trên lưng Hổ, một tay đặt lên đầu con Khỉ đang chầu bên cạnh.

Không chỉ để dấu ấn trong các ngôi chùa mà hình tượng Khỉ lan tỏa cả vào các di tích đền đình. Trên tấm bia dựng năm 1608 ở đền vua Đinh Tiên Hoàng và đền Lê Đại Hành (Hoa Lư - Ninh Bình) chạm đôi Khỉ ôm nhau. Với kỹ thuật chạm nổi theo kiểu kênh bong, nghệ nhân xưa đã điểm xuyết hình tượng Khỉ cùng các linh thú khác trên các bộ cửa và hệ thống cột ở đền Xám (Hồng Quang, Nam Trực - Nam Định), nơi thờ sứ quân Trần Lãm (một trong 12 sứ quân thời tiền Lê).

Trong tín ngưỡng Tứ phủ, hình bóng con Vượn (một loài Khỉ) là biểu tượng cho không khí rừng núi hoang sơ khi Vượn ra mắt dâng cúng hoa quả. Trong văn học cổ điển Việt Nam, danh từ Vượn đã xuất hiện rất sớm trong buổi đầu của chữ Nôm thời Trần (thế kỷ XIII – XIV), khi Thiền sư Huyền Quang (1254-1334), đệ Tam Tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử viết  trong “Phú vịnh chùa Hoa Yên”:

Chim óc (gọi) bạn, cắn hoa nâng cúng

Vượn bồng con, cời cửa nghe kinh

Thưởng thức dân ca Huế “Lý qua đèo”, dân ca Quan Họ Bắc Ninh “Ăn ở trong rừng” và những điệu xẩm huê tình cũng nhắc đến Vượn với ý nghĩa tượng trưng cho nỗi niềm thương nhớ da diết và cảnh vượt thâm sơn gian nan.

Trong đời sống xã hội thời phong kiến thì từ “Hầu” (con Khỉ) đồng âm với từ “Hầu” - một tước vị quyền quý được xếp theo thứ bậc “Công, Hầu, Bá, Tử, Nam”, cho nên trong nhiều bức tranh đã vẽ hình tượng con Khỉ mang ý nghĩa là “phong hầu” (phong chức tước).

Nếu tranh vẽ hình tượng con Khỉ trèo trên cây Phong thì biểu tượng mang ý nghĩa “Phong hầu quải ấn” (đeo ấn phong hầu). Tranh vẽ hình tượng con Khỉ cưỡi trên lưng Ngựa thì biểu tượng mang ý nghĩa “Mã thượng phong Hầu” (Cưỡi ngựa phong hầu). Tranh vẽ 2 con khỉ ngồi trên cây Tùng hoặc 1 con khỉ cưỡi lên lưng con kia, có nghĩa là “Bối bối phong Hầu” (đời đời phong Hầu). Những dịp Tết Xuân, người ta biếu tặng nhau những bức tranh ấy tỏ ý chúc mừng cho sự thăng quan tiến chức, thành công, may mắn trong sự nghiệp.

Cũng từ thực tế quan sát kỹ các động tác leo trèo, chạy nhảy, săn bắt, hái lượm của loài Khỉ mà trong võ thuật, người ta đã sáng tạo ra môn phái Hầu quyền. Môn phái đặc thù này đòi hỏi người sử dụng phải phối hợp nhịp nhàng thân pháp, thủ pháp, cước pháp thật uyển chuyển, linh hoạt, nhẹ nhàng, chủ yếu lấy nhu chế cương. Để có thân - thủ - cước phi phàm, võ sĩ Hầu quyền phải học cả khinh công và khí công.

Có thể nói, hình tượng con Khỉ đã đi vào văn hóa Việt như một dấu ấn thân thương, gần gũi và mang tính triết - mỹ - nhân văn.

Ban Nghiên cứu Văn hóa

 

 

Tags:

Bài viết khác

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Nét đẹp văn hóa dân tộc

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ. Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hòa cùng các tôn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam.

Các nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục truyền thống quan trọng trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đây là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính và nhớ về cội nguồn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các nghi thức, nghi lễ trong thờ cúng tổ tiên thường được thực hiện trong các dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, ngày giỗ tổ, lễ cúng ông Công ông Táo, và nhiều dịp quan trọng khác. Dưới đây là một số nghi thức và nghi lễ phổ biến trong thờ cúng tổ tiên:

Văn hóa cúng tiền chủ trong tín ngưỡng dân gian

Trong tín ngưỡng dân gian, cúng tiền chủ là một phong tục phổ biến tại nhiều gia đình, đặc biệt vào các ngày Rằm, Mồng Một, Giỗ Tết hoặc khi có điều gì không ổn trong nhà. Người ta tin rằng tiền chủ là người đã sống và qua đời trước tiên trong ngôi nhà này, và dù thời gian trôi qua, ngôi nhà có thể chuyển từ tay gia chủ này sang gia chủ khác, nhưng tiền chủ vẫn luôn dõi theo và thỉnh thoảng quay về thăm ngôi nhà cũ.

Những nguyên tắc khi bốc bát hương thờ cúng: Quy tắc và ý nghĩa tâm linh

Trong tín ngưỡng thờ cúng của người Việt, bát hương (lư hương) đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Nó không chỉ là một vật phẩm trang trí trên bàn thờ mà còn là nơi để giao tiếp giữa thế giới trần gian và thế giới tâm linh. Tuy nhiên, việc lập bát hương không phải là điều đơn giản, và có những nguyên tắc cần tuân thủ để việc thờ cúng được linh ứng.

Đình làng - thiết chế văn hóa tín ngưỡng

Đình làng có vị trí, vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ. Đình làng được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ra đời vào thời Lê –Mạc, là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng, một biểu tượng của tính cộng đồng, trung tâm văn hóa, hành chính của làng xã truyền thống.

Nhà Lớn Long Sơn và Lễ hội Trùng Cửu: Dấu ấn tín ngưỡng bản địa Nam Bộ

Mỗi năm, vào các ngày 7, 8 và 9 tháng 9 âm lịch, người dân đảo Long Sơn (TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, nay là xã Long Sơn, Tp. Hồ Chí Minh) lại nô nức hướng về Nhà lớn Long Sơn để tham dự Lễ hội Trùng Cửu – một trong những lễ hội truyền thống lớn và giàu ý nghĩa nhân văn bậc nhất của vùng đất biển này.

Tín ngưỡng Giàng Knée – Sợi dây thiêng liêng kết nối cộng đồng người Pa Cô

Đối với người Pa Cô nói riêng và đồng bào các dân tộc thiểu số miền Tây Quảng Trị nói chung, thế giới luôn tồn tại song song hai chiều không gian: trần thế và linh giới. Trong đó, vạn vật – từ con người đến cây cỏ, muông thú – đều có linh hồn và chịu sự chi phối của các thế lực siêu nhiên. Quan niệm này hình thành nên tín ngưỡng vạn vật hữu linh, gắn bó sâu sắc với đời sống văn hóa – tinh thần của cộng đồng.

Quan niệm về Thiên đường và Địa ngục trong tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng

Trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Tày và Nùng, tồn tại một vũ trụ quan phân tầng, nơi các lực lượng siêu nhiên được chia thành nhiều loại, cư ngụ tại các không gian khác nhau và có mối quan hệ tác động qua lại với con người. Một trong những biểu hiện đặc trưng là niềm tin vào các loại "phi" (ma, linh hồn), cũng như quan niệm về Thiên đường và Địa ngục (âm phủ).
Top