banner 728x90

Tục ở rể của người Thái - Xưa và nay

24/12/2024 Lượt xem: 2547

Người Thái có tục ở rể, đây là khoảng thời gian thử thách tình yêu của chàng trai với cô gái, vừa là thời gian trả công ơn sinh thành của chàng rể đối với gia đình vợ. Tuy nhiên trong thời đại mới, tập quán ở rể đã có nhiều thay đổi, cởi mở hơn, thậm chí có vùng không còn duy trì.

Tục ở rể của người Thái là một tập tục đẹp và nhân văn

Người Thái quan niệm rằng, cha mẹ và gia đình đã có công sinh thành, nuôi dạy cô gái trưởng thành, thì trước khi đón cô gái về nhà làm vợ, chàng rể phải trả công cho cha mẹ vợ bằng cách ở rể. Thời gian ở rể trong bao lâu là do sự thỏa thuận của hai bên gia đình, nhưng cũng nằm trong quy ước của từng vùng. 

Ở rể được chia làm 2 phần: Ở rể thực và quy ra tiền. Số tiền cũng phù hợp với quy ước chung của vùng. Ví dụ, thời gian ở rể được thỏa thuận là 3 năm, trong đó ở rể thực là 1 năm, còn 2 năm trả bằng tiền, mỗi năm là 500.000 đồng, tổng tiền là 1 triệu đồng.

Ông Ca Chung, Nhà nghiên cứu văn hóa Thái (Sơn La) cho biết, người Thái còn có tục ở rể trước khi cưới, được gọi là "khươi quản". Thời gian này, chàng trai và cô gái chưa phải là vợ chồng. Chàng trai chỉ được ngủ ở gian khách, tức là "hỏng quản" nên mới gọi là "khươi quản". Còn cô gái vẫn có quyền tiếp các chàng trai khác, khi họ đến tán tỉnh.

"Khươi quản" là hình thức "ở rể dự bị" để thử thách, nhưng nó sẽ được tính vào thời gian ở rể. Nên trong khi chờ đợi ngày trở thành vợ chồng chính thức, các chàng trai thường đi "khươi quản" để sớm được đón vợ về, đồng thời có thời gian để tìm hiểu thêm về người vợ tương lai của mình.

Theo Nghệ nhân ưu tú Lò Văn Biến (Nghĩa Lộ, Yên Bái), đây là tập tục đẹp trong văn hóa dân tộc Thái, vừa thể hiện công ơn sinh thành, dưỡng dục dành cho bố mẹ vợ, vừa để thử thách xem con rể có biết làm ăn hay không. Khi thách cưới (thực chất là thả lãi), thách 1 con trâu, nhưng sau nhiều năm ở rể, có khi chàng rể còn dắt được cả đàn trâu về nhà; hoặc thách cả tấn thóc, sau thời gian ở rể có khi có mấy tấn thóc đem về. Tập tục ở rể đẹp là thế, không phải để bóc lột sức lao động của chàng rể.

Như vậy, ngoài ý nghĩa thể hiện tình yêu của chàng trai với cô gái, thể hiện sự biết ơn đối với bố mẹ vợ, ở rể cũng là khoảng thời gian lao động dành dụm của cải riêng cho đôi vợ chồng trẻ. "Ở rể" hay "ở rể dự bị" là tập quán tốt đẹp và nhân văn của người Thái, rất đáng được trân trọng.

Với thiết chế văn hóa mới, tục ở rể của người Thái thay đổi, để phù hợp hơn với thời đại

Ngày nay, người Thái đã vượt ra khỏi làng bản để đi học, lao động ở khắp mọi nơi, với nhiều ngành nghề mới, phương thức sản xuất mới. Đặc biệt, nhiều người làm công nhân ở các nhà máy, xí nghiệp với điều kiện thời gian khắt khe. Hơn nữa, sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, dân tộc, trong đó có nhiều chàng rể là người dân tộc khác kết duyên với các cô gái Thái…

 Trước những điều kiện mới, buộc tập quán ở rể cũng phải thay đổi cho phù hợp hơn. Ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn tục ở rể, nhưng thời gian ngắn và trả bằng tiền nhiều hơn.

Anh Hà Văn Trung (SN 1987), ở Tân Uyên (Lai Châu) hiện là Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Biểu diễn nghệ thuật, kiêm Phó Trưởng Khoa Văn hóa - Nghệ thuật (Trường Cao đẳng Lào Cai) cho biết, thời bố mẹ anh tục ở rể rất dài. Nhưng đến lượt anh (anh lấy vợ người Tày ở Văn Bàn, Lào Cai), vẫn có tục ở rể, nhưng anh không phải ở rể nữa. 

Tuy nhiên, anh vẫn gửi tiền cho bố mẹ vợ theo tục lệ. Nhà anh gửi tiền cho nhà vợ 25 triệu đồng, nhưng bố mẹ vợ không nhận hết, chỉ lấy 10 triệu đồng. Tương tự, lứa bạn của anh cũng không ai ở rể, nhưng một số tục lệ bắt buộc vẫn phải giữ. Bây giờ chỉ có trong những bản vùng sâu thì vẫn giữ tục ở rể, nhưng rất ít.

“Thời bây giờ tục lệ đơn giản hơn, thường thì quy ra tiền, khoảng 20 - 30 triệu đồng và nhà trai sẽ sang nhà gái lo việc cưới. Nếu chàng rể không phải người Thái, thì cũng không yêu cầu gì, tiền thì chắc vẫn yêu cầu có, nhưng trên cơ sở thống nhất giữa hai gia đình”, anh Hà Văn Trung chia sẻ.

Còn theo Nhà nghiên cứu văn hóa Thái Ca Chung, ở TP. Sơn La, hiện tiền ở rể không đáng kể, chỉ khoảng đôi triệu, còn cưới mới là nhiều. Cách tổ chức một đám cưới cũng tương tự như người Kinh, tổ chức tại hội trường hay làm nhà bạt tại nhà mình. Số mâm cỗ từ 30 - 80 mâm tùy từng gia đình. Nhưng sẽ có vài mâm ở nhà để "xứ lam" (mối lái) làm thủ tục cùng một số đại diện gia đình hai bên.

Ông Ca Chung cũng cho biết thêm, rể là người dân tộc khác thì không phải ở rể, vì hầu hết là những người đang công tác. Cũng có nơi thì trả bằng tiền, nhưng không bắt buộc, chỉ do họ tự tìm hiểu tục lệ nên tự nguyện trả cho đúng thủ tục.

“Người Thái ở Nghĩa Lộ (Yên Bái) đã bỏ tục này từ những năm 1961, sau đợt “Vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp cải cách dân chủ ở miền núi”. Để ghi nhận công ơn của bố mẹ vợ, chàng rể thường sẽ biếu bố mẹ vợ mấy trăm nghìn đồng, hoặc mua vòng tay, quần áo cho mẹ vợ và quần áo cho bố vợ. Không còn thách cưới, thậm chí nhiều gia đình nhà gái có điều kiện còn cho không, hoặc cho thêm của cải cho chàng rể”, Nghệ nhân ưu tú Lò Văn Biến thông tin.

Tuy nhiên theo Nghệ nhân ưu tú Lò Văn Biến, việc bỏ tục này, đồng nghĩa với việc có một phần bản sắc văn hóa đẹp trong ngày cưới mất đi, đó là khi không còn phần hát, tâm sự của các ông tơ, bà mối trong phần đón dâu, mừng dâu mới. Thay vào đó, là sự dẫn dắt của MC (người dẫn chương trình) và những điệu nhảy, hát hiện đại. Đấy cũng là nguyên nhân nhiều người già không còn thích đến đám cưới nữa.

Có thể thấy rằng, dù ở rể dài hay ngắn, hoặc không ở rể, nhưng với người Thái, con rể và con dâu đều có trách nhiệm ứng xử tốt với cha mẹ hai bên. Trong đó, con dâu cũng giống như các dân tộc khác, còn con rể thì có trách nhiệm cao hơn (điểm này khác với dân tộc khác).

 Người Thái thường rất tôn trọng bên ngoại (gọi là "lũng tà"). Họ cho rằng, bên ngoại là người trao giống cho mình. Các lời chúc tụng của bên ngoại được cho là rất thiêng, "chúc sao được vậy".

Có thể nói, tục ở rể của người Thái là một tập tục tốt đẹp, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Song, sự chuyển biến trong tập tục này, không phải là đánh mất bản sắc văn hóa, mà thể hiện sự thích ứng linh hoạt, để phù hợp hơn với đời sống văn hóa mới. Đây là điều đáng mừng, đáng trân trọng.

Văn Hoa/ baodantoc.vn

 

 

Tags:

Bài viết khác

Nét độc đáo trong trang phục truyền thống của người Khmer

Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống và mỗi dẫn tộc đều có trang phục truyền thống riêng. Tuy nhiên trang phục dân tộc Khmer có lẽ được xem là nổi bật và cầu kỳ nhất, đặc biệt trang phục truyền thống của phụ nữ Khmer Nam bộ mang nét duyên, nét độc đáo không thể lẫn lộn với bất kỳ một trang phục nào khác.

Độc đáo tục rước dâu của người Dao Thanh Y ở Bình Liêu (Quảng Ninh)

Lễ cưới của người Dao Thanh Y ở Bình Liêu (Quảng Ninh) không chỉ là một nghi thức quan trọng trong đời sống hôn nhân, mà còn mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống với nhiều phong tục đặc sắc hiếm thấy ở các dân tộc khác. Trong đó, Lễ rước dâu là phần đặc biệt nhất, thể hiện sự giao thoa giữa tín ngưỡng, phong tục và tinh thần cộng đồng.

Tết Thanh minh của người Dao

Tết Thanh minh không chỉ là dịp để tưởng nhớ tổ tiên mà còn là một nét văn hóa đặc sắc của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó có người Dao Quần Chẹt ở các tỉnh Tuyên Quang, Hòa Bình, Vĩnh Phúc. Đây là dịp để con cháu sum vầy, thể hiện lòng thành kính với bậc tiền nhân, đồng thời lưu giữ những phong tục truyền thống.

Nét văn hóa trong trang phục dân tộc H’mông

Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc H’mông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cùng với tiếng nói, chữ viết, trang phục cũng là một trong những chi tiết quan trọng đầu tiên để nhận biết và phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Trang phục truyền thống không chỉ mang đậm bản sắc văn hóa, mà còn chứa đựng những giá trị nghệ thuật, giá trị lịch sử của từng tộc người.

Những tấm dệt đan sắc núi rừng

Giữa sắc thẫm của đại ngàn Trường Sơn, đây đó nổi lên màu trắng của những dải mây vành khăn ở lưng chừng núi, màu đỏ của hoa gạo, hoa chuối, màu xanh của cây cỏ, màu vàng của lá úa rơi rụng, hay màu tím của hoàng hôn, màu của những tia nắng tán sắc cuối chân trời khi chiều muộn… Tất cả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mà người Tà Ôi ở không gian sống của chính tộc người mình

Những điều cần biết về tục thờ Linga và Yoni của người Chăm

Tục thờ Linga và Yoni có nguồn gốc từ cộng đồng người sống ở vùng lưu vực sông Ấn, thuộc chủng tộc Sumerian và Dravidan. Tín ngưỡng của họ gắn liền với thần thoại về thần mẹ và sự thờ cúng âm lực, coi sinh thực khí là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo.

Các phong tục cần biết khi đến các làng bản của người dân tộc

Đồng bào các dân tộc Bắc Hà nói riêng và Lào Cai nói chung rất hiếu khách, nhưng khi du khách đến thăm làng, bản nên chú ý những điều kiêng kỵ và cần biết một vài phong tục, tập quán sinh hoạt để tiện ứng xử và giao tiếp.

Nhuộm răng đen - Phong tục lâu đời của người Việt

Nhuộm răng đen là một tục lệ lâu đời, xuất hiện từ thời Hùng Vương, tồn tại suốt mấy ngàn năm trong lịch sử văn hóa của người Việt. Đây vốn là phong tục cổ truyền không chỉ của cư dân người Việt mà còn tồn tại ở cộng đồng các dân tộc như Thái, Mường, Dao, Lự, Si La,…Trong cộng đồng người Việt, tục nhuộm răng đen chủ yếu chỉ phổ biến ở khu vực miền Bắc và miền Trung, còn ở miền Nam không thấy dấu vết của phong tục này.
Top