banner 728x90

Tín ngưỡng Việt mang tính dân tộc, dân gian

19/05/2024 Lượt xem: 2725

Có nhiều quan niệm về tín ngưỡng; Song, khái niệm có tính khái quát nhất cho rằng tín ngưỡng là niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới mong mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người. Tín ngưỡng còn thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững và đôi khi được hiểu là tôn giáo.

​​​​​Kiến trúc gỗ dân gian truyền thống Đình làng của Việt Nam

Chủ nghĩa Mác-Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Ngoài ra, tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam; tín ngưỡng là niềm tin, sự trông cậy và yêu quý một thế lực siêu nhiên mà với tri thức con người và kinh nghiệm chưa đủ để giải thích và lý giải được...

Với đặc điểm về lịch sử và văn hóa, tín ngưỡng của người Việt mang tính dân tộc, dân gian; trong các hình thái tín ngưỡng dân gian thì thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát nhất của người Việt. Thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt đã hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở quan niệm tâm linh và một nền tảng kinh tế, xã hội, tư tưởng khá bền vững.

Nghi thức tế tự trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gồm ba bộ phận: tế tự tại gia đình, tế tự tại làng, xã và tế tự quốc gia. Các thế hệ người Việt luôn tôn thờ công đức của cha ông, tộc họ; đồng thời tôn thờ những người có công với xóm làng, với dân, với nước và ngày Giỗ tổ Hùng Vương được đưa vào Quốc lễ đã trở thành ngày Giỗ quan trọng nhất của người Việt Nam...

Với người Việt, thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, các bậc cao, tằng, tổ, khảo (kỵ, cụ, ông, bố) là đạo lý được nối tiếp, gìn giữ có tính bền vững. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam từ gia đình, dòng họ đến Tổ quốc không ngừng được gìn giữ, bảo tồn; Giỗ tổ Hùng Vương là sự phát triển cao có tính chất trìu tượng hóa ý thức về cội nguồn, bắt rễ từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng xã, trong gia đình và gia tộc.

Còn mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và tồn tại đến ngày nay…; đó là niềm tin một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí, gây tổn hại về sức khỏe, tài sản, tính mạng và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia đình và xã hội”. Trong thực tế, mê tín dị đoan thường gắn vào các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo và các hoạt động lễ hội. Việc xác định hành vi, hoạt động mê tín dị đoan chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó.

Để phân biệt đâu là tín ngưỡng, đâu là mê tín dị đoan, cần xác định điểm giống và khác nhau giữa chúng; về giống nhau, mê tín dị đoan thường gắn với các hình thức tín ngưỡng và tôn giáo nên có điểm giống nhau là đều tin vào những điều mà mắt không thấy hình hài, tai không nghe được tiếng nói của đấng thiêng và của đối tượng thờ cúng; tín điều của tín ngưỡng và mê tín dị đoan đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, cộng đồng để con người tin theo và noi theo tấm gương sáng của những đấng, bậc thiêng liêng và những đối tượng tôn thờ.

Mỗi năm, cả nước ta có gần 8.000 lễ hội lớn nhỏ (trung bình mỗi ngày diễn ra khoảng 22 lễ hội). Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, lễ hội xuất phát từ nhu cầu về văn hóa và hưởng thụ văn hóa của con người; nhiều lễ hội có từ lâu đời và mang bản sắc riêng từng vùng miền, từng địa phương, tộc người; đồng thời, có những lễ hội mang tính cộng đồng (lễ hội văn hóa, du lịch…). Mục đích của Lễ hội tạo ra sân chơi văn hóa lành mạnh; qua đó, tạo sự cấu kết cộng đồng, tương thân tương ái, giáo dục truyền thống dân tộc, lòng yêu nước, sự biết ơn đối với các bậc “công thần khai quốc”…

​​​​Tam tòa Thánh Mẫu là 3 vị thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ

Lễ hội thường có hai phần: Lễ và Hội; ở phần “Lễ” diễn ra các hoạt động mang sắc thái tín ngưỡng, tâm linh thể hiện ước vọng của con người, cộng đồng dân cư mong mưa thận, gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, con người khỏe mạnh…Đặt niềm tin vào đấng siêu nhiên, thiêng liêng; ở đó, còn là sự bày tỏ lòng thành kính, sự biết ơn đối với các bậc tiền nhân có công giúp dân, lập quốc (các đời Vua Hùng, hay Thành Hoàng làng, đức Thánh Mẫu…).

Nói cách khác, lễ hội là hoạt động văn hóa mang yếu tố tín ngưỡng, tâm linh của con người. Tuy nhiên, hiện nay khi mà yếu tố tâm linh bị thổi phồng, bị cường điệu đánh vào lòng tham của con người; cùng với sự “sùng tín”, sự mê muội của một bộ phận nhân dân; đặc biệt, lợi dụng lễ hội để hoạt động mê tín dị đoan …đã biến các lễ hội thành nơi tranh giành, tranh cướp rất bát nháo, hỗn độn gây bức xúc dư luận xã hội.

Ban Nghiên cứu văn hóa

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top