banner 728x90

Giá trị văn hóa trong tín ngưỡng dân gian và lễ hội

26/04/2024 Lượt xem: 2628

Lễ hội truyền thống có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, có khả năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của đông đảo công chúng, đồng thời có tác động tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội - chính trị của đất nước. Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử và cũng là hiện tượng văn hóa xã hội có mặt ở Việt Nam từ lâu đời, hiện đang thực sự tồn tại và vận hành theo chiều hướng tăng về số lượng, thu hút nhiều người tham gia.

Lễ hội cầu Ngư tại xã Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa

Từ xa xưa, người Việt có niềm tin mãnh liệt và sự thành kính thiêng liêng đối với thần thánh hay các  lực luợng siêu nhiên, tin vào cuộc sống sau khi chết và tin rằng tổ tiên, dòng họ cũng là lực lượng bảo trợ tinh thần cho người đang sống. Tín ngưỡng dân gian thường có những đặc điểm chung: niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên; tính thiêng liêng cao cả; sự tôn vinh xen lẫn sợ hãi; là mối quan hệ tương tác giữa con người và thần thánh, thái độ của con người với tự nhiên; tình thương yêu con người và đồng loại.

Đề cập tới tín ngưỡng dân gian, bao giờ người ta cũng nhấn mạnh tới giá trị nhân văn, đặc biệt là yếu tố văn hóa đạo đức trong tín ngưỡng dân gian có giá trị đặc thù nhằm củng cố, bảo vệ đức tin thiêng liêng trong cộng đồng, đồng thời cũng chứa đựng những chuẩn mực đạo đức, mang tính nhân loại. Đó là tình thương đồng loại, hướng đến điều thiện, loại trừ cái ác.

Một nghi thức thờ thành Hoàng

Tín ngưỡng dân gian có khả năng đáp ứng được những nhu cầu về mặt tinh thần, tâm linh của các tầng lớp cư dân trong xã hội: nhu cầu được an ủi, chia sẻ, xoa dịu nỗi đau, mất mát nơi trần thế; ước mơ có điểm tựa tinh thần để đối mặt với những thách thức, rủi ro từ thiên nhiên và xã hội; Để thực hành tín ngưỡng, để củng cố, duy trì và trao truyền đức tin tôn giáo, tín ngưỡng cũng như các giá trị văn hóa đạo đức, con người đã sáng tạo ra hai loại hình di sản văn hóa là:

Di sản văn hóa vật thể/các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng (đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ, lăng mộ…) là không gian văn hóa - tâm linh mang tính thiêng liêng quy tụ lòng người. Di sản văn hóa phi vật thể/lễ hội văn hóa truyền thống, nghi thức thờ cúng, các loại lễ vật dâng cúng trong các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng, các phong tục, tập quán địa phương, các kho tàng huyền thoại, truyền thuyết, thần phả, sắc phong.

Các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng thường là một hợp thể giữa kiến trúc và thiên nhiên, hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học được tạo dựng ở những vùng địa linh theo đúng các nguyên tắc phong thủy; Có thể nói, tín ngưỡng dân gian và các thiết chế văn hóa gắn với nó là một bộ phận di sản văn hóa của Việt Nam. Bằng chứng xác đáng là, đến nay đã có 2.260 thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng trong đó có quần thể di tích-danh thắng núi Sam, Châu Đốc, An Giang đã được xếp hạng là di tích quốc gia, trên tổng số 3.173 di tích của cả nước.

Do có một niềm tin, có mục tiêu chung, lại được củng cố bằng những hoạt động tập thể qua nhiều chu kỳ lễ hội, kéo dài suốt quá trình phát triển của cộng đồng, cho nên lễ hội góp phần tạo lập ra văn hóa cộng đồng. Theo Phạm Tung, “văn hóa cộng đồng là văn hóa ứng xử của một cộng đồng trong những môi trường, không gian và thời gian lịch sử xác định”. Trong văn hóa cộng đồng, ta nhìn thấy được sự đồng thuận của một nhóm cá thể, một tập thể lớn trong nhiều mặt đời sống: đồng thuận, tự giác chấp thuận và thực hiện các quy tắc chung về nhận thức, mục tiêu phát triển cộng đồng; đồng thuận về lợi ích, cách thức giải quyết hài hòa lợi ích giữa cá nhân với tập thể, bộ phận với toàn thể; đồng thuận trong việc giữ gìn hình ảnh, uy tín của cộng đồng; đồng thuận để xây dựng và giữ gìn tình cảm gắn kết cộng đồng để cùng nỗ lực đương đầu với thách thức và rủi ro.

Lễ hội truyền thống là môi trường đào luyện nhân cách và trao truyền văn hóa, hay nói một cách khác lễ hội truyền thống là nơi khởi nguồn, bồi đắp, duy trì và lan tỏa các giá trị văn hóa. Lễ hội truyền thống không chỉ là không gian văn hóa - tâm linh, mà còn là cơ hội để các thành viên cộng đồng giao lưu, đối thoại với nhau, đặc biệt quan trọng là cơ hội tiếp cận, đối thoại với thần linh, vị thần được gửi gắm, nương tựa về mặt tinh thần cho cả cộng đồng. Điều cốt lõi làm nên lễ hội truyền thống là hạt nhân tâm linh đối tượng được tôn thờ một cách thành kính và thiêng liêng. Chính sự thành kính và thiêng liêng đã tạo ra biểu tượng văn hóa cho mỗi lễ hội. Như vậy, chúng ta cần nhìn nhận tín ngưỡng dân gian và lễ hội truyền thống như là một bộ phận cấu thành quan trọng của kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. 

Ban Nghiên cứu Phật giáo phía Nam

 

Tags:

Bài viết khác

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nét văn hóa tâm linh trong kiến trúc nhà thờ họ

Kiến trúc nhà thờ họ là biểu tượng vật chất đậm nét văn hóa phi vật thể của các tộc họ ở Việt Nam. Đây là nơi lưu giữ giá trị, tổ chức, quan hệ, và thành tựu của mỗi dòng tộc qua nhiều thế hệ. Theo truyền thống, nhà thờ họ thường được xây dựng theo cấu trúc đơn giản nhưng hài hòa, mang đậm nét riêng của văn hóa dân gian.

Vai trò và ý nghĩa của nhà thờ họ tại Việt Nam

Nhà thờ tổ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.

Tứ quý trong tranh dân gian Đông Hồ

Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình (bốn bức) khổ lớn, vẽ cảnh tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng. Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng).

Cỗ và mâm cỗ truyền thống của người Việt

Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người. Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ. Người nhà chủ tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng mạnh hoặc nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn bà.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa riêng. Văn hóa là cái gốc cho sự phát triển, phồn thịnh của một đất nước. Việt Nam là một dân tộc mang một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đa dạng và phong phú. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với người dân Việt, văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tâm thức người dân.

Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền ở Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian đóng vai trò quan trọng trong các lễ hội cổ truyền của Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hóa, tâm linh và lòng tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên, Tổ tiên, thần thánh. Bài viết tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về tín ngưỡng dân gian trong các lễ hội cổ truyền của người Việt, đặc biệt, lễ hội liên quan đến tín ngưỡng dân gian như: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Ý nghĩa và mục đích của tục “Bán khoán con lên chùa”

Bán khoán con cho chùa là một tín ngưỡng dân gian, một hình thức gửi gắm về mặt tâm linh. Có hai hình thức bán khoán con lên chùa: Bán khoán đến hết năm 12 tuổi rồi “chuộc” con ra, hoặc là bán khoán trọn đời. Từ xưa đến nay, nhiều gia đình quan niệm, khi sinh con ra, đứa trẻ hay đau yếu, khóc lóc không phải là do bị bệnh từ thân hoặc những đứa trẻ sinh vào giờ kỵ, ngày phạm (tức ngày mùng 1, 5, 8, 15, 23, 24, 28 và ngày 30 Âm lịch).
Top