banner 728x90

Bài 4: Phú Mỹ xưa và nay

29/04/2024 Lượt xem: 3852

       Xã Phước Hòa ngày nay là một xã đông dân cư và tương đối phát triển của Tân Thành. Những địa danh Đồng Tranh, Gò Me, Gò Dầu, Láng Tranh, Bến Cây Lim (hay Liêm, do đọc chệch), núi Đất (núi Trần, hay núi Ba Con Heo), sông Mỏ Nhát… đã đi vào ký ức của nhân dân Phước Hòa - Ông Trịnh.

       Hiện nay, phường Phước Hòa gồm có các khu phố Ông Trịnh, Song Vĩnh (được chia tách từ ấp Ông Trịnh), Hải Sơn, Lam Sơn, Phước Sơn (ấp Lam Sơn và Phước Sơn được chia tách từ ấp Hải Sơn) và Phước Lộc. Phước Hòa là phường có diện tích lớn nhất thị xã Phú Mỹ (8.301,83 ha), dân số khoảng 15.589 người (trong đó 14,83% theo Phật giáo; 70,25% theo Thiên Chúa giáo- khu phố Hải Sơn có đến 90% dân số theo Thiên Chúa giáo; 0,18% theo đạo Tin Lành; 0,42% theo đạo Cao Đài; và 14,32% không theo tôn giáo hoặc theo các tôn giáo khác; phần lớn là người Kinh, có 14 hộ thuộc các dân tộc ít người). Thế mạnh kinh tế hiện nay của phường Phước Hòa là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ. Hiện nay, các khu phố Hải Sơn, Phước Lộc, Song Vĩnh đã phát triển rất nhanh.

        Các nghề có thu nhập tương đối cao ở Phước Hòa là thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, nghề đá xuất khẩu ở Phước Hòa đã thu hút gần 1 ngàn lao động. Ngoài những nghề trên, Phước Hòa còn có nghề nông, làm muối (làng muối Phước Lộc). Từ cuối thế kỷ 19, nghề làm muối đã có ở Phước Hòa. Năm 1901, Phước Hòa có 47,6 ha diện tích làm muối. Dân số Phước Hòa lúc ấy khoảng 739 người, là xã có dân số đông nhất trên địa bàn thị xã Phú Mỹ.

       

        Qua khảo sát bước đầu, nhiều câu chuyện dân gian cho thấy đa số nhân dân cư ngụ ở Phước Hòa đều có nguồn gốc từ tỉnh Gia Định (vốn là quan, quân của Nguyễn Huệ) di dân về đây hồi cuối thế kỷ 19, trong đó có nhiều gia đình người Chăm, vốn là hậu duệ của những người đi theo để bảo vệ ông Trịnh (khoảng trên 30 gia đình) và người từ miền Bắc di cư năm 1954.

        Năm 1945, trung tâm xã Phước Hòa nằm trên địa phận xã Hội Bài hiện nay (kéo dài khoảng 3km đến cầu Rạch Váng, phía Đông và Đông Bắc là rừng Giồng - cây cối rậm rạp, khó phân định ranh giới; phía Đông Nam giáp với xã Long Hương, ngã tư Hội Bài; phía Nam giáp với cù lao Bà Trao - Núi Nứa, phía Bắc giáp với xã Phú Thạnh (sau đó là xã Phú Mỹ). Phước Hòa có chiều rộng chừng 8 km, diện tích tự nhiên toàn xã khoảng 24 km2, dân số khoảng 45 hộ, trên dưới 200 người, với 4 ấp: Phước Hòa, Phước Hiệp (Rạch Chanh), Phước Tân (Rạch Nghệ) và ấp Phước Long (ngã tư Hội Bài).

        Bấy giờ nhân dân thường chọn các gò cao, rộng và thường làm nhà sinh sống ven theo các nhánh sông, rạch (bến Bà Chiếu, bến Cầu Quan và dọc Rạch Chanh) để tiện đốn củi, hầm than, múc dầu ráy, lượm chai cục và đánh bắt hải sản để sinh sống.

        Phước Hòa có nhiều di tích lịch sử - văn hóa và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian cũng như được ghi chép trong thư tịch cổ phản ánh quá trình khai phá vùng đất này.

        Năm 1998, lần đầu tiên một di tích khảo cổ học ở thị xã Phú Mỹ được tổ chức khai quật quy mô. Đó là di tích khảo cổ học Gò Cá Sỏi, thuộc ấp Phước Lộc, xã Phước Hòa. Di tích nằm trên một cái gò, bao bọc xung quanh là đầm lầy nước mặn và rừng đước. Từ những hiện vật: rìu đá, mảnh gốm, hòn lăn, con kê… mà cuộc khai quật thu được đã cho biết từ cách đây 2.500-2.700 năm vùng đất này đã có con người sinh sống.

        Từ Gò Cá Sỏi, các nhà khảo cổ học đã thăm dò những gò tương tự trong vùng đã phát hiện được rất nhiều mảnh gốm, rìu đá có niên đại tương tự Gò Cá Sỏi. Các nhà khảo cổ học cũng đã cho biết mối quan hệ giữa Gò Cá Sỏi với di tích Bưng Bạc, Bưng Thơm và một số di tích khảo cổ học khác trên địa bàn Bà Rịa-Vũng Tàu. Như vậy, trước khi người Việt đến vùng đất Bà Rịa-Vũng Tàu khai hoang mở đất, trên địa bàn này nói chung và thị xã Phú Mỹ nói riêng đã có những người bản địa sinh sống…

       Hình ảnh Bà Rịa Vũng Tàu năm 1920

        Ở phường Phước Hòa hiện nay có nhiều địa danh mang tên Ông Trịnh: ấp Ông Trịnh, núi Ông Trịnh, sông Ông Trịnh, chợ Ông Trịnh, bến Ông Trịnh… Ông Trịnh chắc hẳn là tên một nhân vật có quan hệ gắn bó với vùng đất này. Nhưng khác với Lê ni cô đã trở thành địa danh Thị Vải, nhân vật ông Trịnh không thấy ghi trong sử sách. Tuy nhiên, trong dân gian vẫn lưu truyền nhiều câu chuyện về nguồn gốc và công trạng của ông. Đặc biệt, hiện nay đền thờ và phần mộ của ông và con ông vẫn còn tại Phước Hòa.

        Đền thờ Ông Trịnh (hay miếu ông Trịnh, miếu Ông Lớn) tọa lạc gần chân núi Ông Trịnh. Trên bàn thờ chính điện ghi Tôn Miếu Nguyễn Quý Công. Điều này cho biết người được tôn thờ mang họ Nguyễn, chứ không phải họ Trịnh như dân gian lưu truyền. Hai bên bàn thờ ông Trịnh là bàn thờ Tả ban, Hữu ban. Phía trước bàn thờ là phần mộ ông, đắp hình voi phục, có bia gỗ những không còn đọc được chữ; phía trước có nhà võ ca, bàn thờ tiên sư và chư vị.

        Ngoài ngôi mộ và đền thờ gần chân núi Ông Trịnh, ven quốc lộ 51 còn có một ngôi mộ cũng mang tên mộ ông Trịnh. Phía sau ngôi mộ cũng có miếu thờ. Nhân dân địa phương cho rằng đây là mộ con trai ông Trịnh. Tháng 1 năm 1998, do phải giải tỏa mặt bằng để mở rộng quốc lộ 51 ngôi mộ này buộc phải di dời. Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh phối hợp ngành Văn hóa Thông tin tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tổ chức khai quật và di chuyển ngôi mộ này. Kết quả khai quật cho thấy chủ nhân ngôi mộ có thể là một người đàn ông có địa vị trong xã hội (phú hộ hay thủ lĩnh quân sự một địa phương, đã có công mở mang, khai phá và giữ gìn vùng đất này), khi chết được tôn thờ, được hương khói. Chưa có căn cứ để xác định “Trịnh” là tên hay họ. Các nhà khoa học khai quật di tích này đoán định niên đại của ngôi mộ có thể ở vào khoảng nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, không sớm hơn.

        Phước Hòa có ngôi Vạn Thông Phật Đường tương đối nổi tiếng, thu hút nhiều khách trong và ngoài địa phương hành hương, cúng Phật, vãn cảnh.

Đào Quốc Thịnh (biên soạn)

Tags:

Bài viết khác

Bài 3: CỤ TỔ LÊ CÔNG HÀNH VÀ NGHỀ THÊU LÀNG QUẤT ĐỘNG

Để tiếp tục tôn vinh tổ nghề thêu của làng, năm 1992 người dân Quất Động cúng lập bài vị đưa ông Lê Công Hành về thờ ở đình làng cùng với các vị Cao Sơn Đại Vương, Minh Lang Nhạc Bộ Đại Vương. Vào thời nhà Nguyễn nhiều thợ thêu Quất Động đã được triệu vào kinh đô Huế làm việc.

Bài 2: DANH NHÂN VĂN HÓA LỊCH SỬ LÊ CÔNG HÀNH - CỤ TỔ NGHỀ THÊU VIỆT NAM

Theo sử sách ghi lại, cụ Lê Công Hành được triều đình nhà Lê cử đi sứ nhà Minh. Trên đường đi sứ, quan lại nhà Minh không để cho đoàn sứ bộ đi đường chính, mà lại dẫn đi theo đường tắt đến một vùng rừng núi thì đoàn hết cả lương ăn. Lê Công Hành bèn cho chặt tre, đan thành những cái dặm, cái dũi, rồi cho quân lính xuống suối kiếm cá và lên rừng tìm trái cây để ăn. Nhờ đó đoàn sứ bộ vẫn mạnh khỏe, đủ sức tiến thẳng về kinh đô nhà Minh.

Bài 1: DANH NHÂN VĂN HÓA LỊCH SỬ LÊ CÔNG HÀNH - CỤ TỔ NGHỀ THÊU VIỆT NAM

Vào khoảng những năm đầu Công Nguyên, con người đã bắt đầu sử dụng những sợi chỉ nhuộm màu, sợi len và đôi khi cả sợi bạc, vàng hoặc đồng thau... để bắt đầu những đường thêu cơ bản, trang trí họa tiết cho quần áo. Họ thêu thùa hình ảnh những cảnh vật thiên nhiên đơn giản như hoa hay những hình trừu tượng mô phỏng những hoạt động, sinh hoạt của đời sống. Rất nhiều những hiện vật trang phục được tìm thấy trên khắp nơi trên thế giới.

Bài 1: Họ Phùng ở Thạch Đà

Họ Phùng ở Thạch Đà, Mê Linh, Hà Nội xưa gọi là Kẻ Đợ (xã Hoa Đà, huyện Chu Diên, Bộ Văn Lang) thuộc vùng đất Việt cổ địa linh nhân kiệt gắn liền với quê hương Hai Bà Trưng, hai người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, trở thành biểu tượng cho sức mạnh quật khởi, ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Chùa Hang “vương quốc chim” giữa không gian thiền môn hơn 300 năm tuổi ở Vĩnh Long

Giữa những tán cây xanh rợp bóng tại ấp 4, xã Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long, chùa Kompông Chrây (chùa Hang) hiện lên với kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer đặc trưng, trầm mặc và cổ kính. Trải qua gần bốn thế kỷ tồn tại, ngôi chùa vẫn giữ được dấu ấn nguyên bản của kiến trúc Khmer Nam Bộ, đồng thời trở thành một không gian sinh thái hiếm có khi là nơi cư ngụ của hàng vạn cá thể chim cò tự nhiên.

Bà Rịa – Vũng Tàu: Hành trình gần 400 năm hình thành và phát triển

Trải qua gần 400 năm hình thành và phát triển, Bà Rịa – Vũng Tàu đã khẳng định vai trò là một trong những trung tâm kinh tế biển quan trọng của khu vực Đông Nam Bộ. Vùng đất này hội tụ những giá trị đặc biệt, từ Côn Đảo giàu truyền thống lịch sử đến mỏ Bạch Hổ – nơi đưa Việt Nam lên bản đồ dầu khí thế giới.

Lăng mộ Quận công Nguyễn Hữu Hào - Dấu ấn kiến trúc giữa lòng Đà Lạt

Lăng mộ Quận công Nguyễn Hữu Hào với kiến trúc giao thoa giữa Á, Âu và không gian tĩnh lặng đang trở thành điểm tham quan thu hút nhiều du khách.

Tháp cổ Bình Thạnh - Di sản ngàn năm trên đất Tây Ninh

Trên vùng đất Tây Ninh - nơi giao thoa của nhiều lớp trầm tích văn hóa - lịch sử, tháp cổ Bình Thạnh (còn gọi là tháp Ông Công - Prey Prasath On Kong) hiện lên như một chứng tích quý giá của một thời kỳ xa xưa. Trải qua hơn 1 thiên niên kỷ tồn tại, ngôi tháp mang nhiều giá trị kiến trúc độc đáo và là “chứng nhân” của tiến trình phát triển văn hóa cổ ở Nam Bộ.
Top